Trang

Thứ Năm, 30 tháng 12, 2010

Cây rắn hổ mang

Loại cây này có hình dáng giống như rắn Hổ mang, với cái lưỡi dài ghê rợn thè lè ra bên ngoài. 

Darlingtonia hay còn gọi là Cobra Lily là một loại cây ăn thịt, tuy nhiên, điều làm nhiều người ngạc nhiên và thu hút sự chú ý bởi loài cây này có hình dạng giống như một con rắn với cái lưỡi dài thè lè ra ngoài, nhìn nó giống như những con rắn Hổ mang ở Ấn Độ. 'Chiếc lưỡi' này chính là một cái bẫy, luôn xoè ra giống như đuôi của một con cá và tiết ra một mùi hương quyến rũ để thu hút những con côn trùng. Khi con mồi sập bẫy, chúng sẽ bị hút lên phía trên đỉnh cây



Cây Cobra Lilies không giống như những loại cây ăn thịt khác là tiết ra một loại men đặc biệt làm tê liệt và hỗ trợ cho việc tiêu hoá con mồi, mà thay vào đấy, loại cây này sẽ tiết ra một loại nước khiến con côn trùng chết chìm trong đó. Sau đó, con mồi sẽ bị phân huỷ bởi các vi khuẩn và vi sinh vật, chất dinh dưỡng sẽ được hoà quyện với nước, lúc này, cây chỉ việc hút những dung dịch bổ dưỡng để kích thích sự tăng trưởng cho mình.

Cobra Lilies là loại cây được tìm thấy ở phía Bắc California và miền nam Oregon, nước Mỹ. Chúng thường sống trên những ngọn đồi dốc, ẩm uớt. Chúng mọc thành từng cụm giống hệt như rêu. Nếu gặp điều kiện thuận lợi, cây có thể mọc cao lên đến 2,4 m.













Đọc thêm!

Những chú cua đỏ ngộ nghĩnh trên đảo Giáng Sinh

HÀNG NĂM KHOẢNG THÁNG 11 - 12, SẮC ĐỎ NGẬP TRÀN NHIỀU CON ĐƯỜNG TRÊN ĐẢO GIÁNG SINH, ĐÓ LÀ MÀU CỦA HÀNG TRIỆU CHÚ CUA ĐỎ TRONG MÙA SINH SẢN TẠO THÀNH MỘT CẢNH TƯỢNG THIÊN NHIÊN KỲ THÚ.






Có khoảng 120 triệu chú cua đỏ đang sinh sống trên hòn đảo có diện tích nhỏ bằng 1/5 đất nước Singapore này. Mỗi con cua trưởng thành có kích thước bằng khoảng bao diêm, khoác trên mình tấm áo canxi màu đỏ đậm.

Đừng nghĩ rằng bạn sẽ được một bữa tiệc cua miễn phí bởi thịt cua đỏ rất độc. Cua đỏ trông có vẻ “khó ưa” nhưng thực ra chúng rất hiền lành, vô hại và là những nhà sinh thái tuyệt vời. Chúng ăn lá mục, hoa quả rụng và phân của chúng giúp đất rừng mầu mỡ.

 


 
Cua đỏ thường ẩn mình trong những chiếc hang nhỏ ẩm ướt trong cánh rừng già của vườn quốc gia đảo Giáng Sinh. Khi mùa mưa bắt đầu (khoảng tháng 11), chúng đồng loạt rời bỏ nơi cư trú để di cư ra bờ biển, bắt đầu cho quá trình đẻ trứng.

Hãy tưởng tượng một tấm thảm mầu đỏ được dệt bằng hàng triệu con cua sẽ cho ra một bức tranh ngoạn mục đến mức nào. Cuộc di cư này không hề đơn giản và dễ dàng bởi quãng đường từ rừng ra biển khá xa. Quá trình di chuyển liên tục và mất nước xảy ra khiến nhiều chú cua phải bỏ mạng dọc đường.

Chướng ngại vật lớn nhất chính là con đường cao tốc chạy xung quanh bìa rừng và đường bờ biển luôn tấp nập ô tô qua lại. Mỗi con cua có thể mất tới 18 ngày để đến được nơi sinh sản. Chúng treo mình và đẻ trứng trên vách đá, cách mép nước biển một khoảng cách nhất định để không bị những con sóng đánh trôi.

Trứng cua đỏ trải qua một cuộc vật lộn sinh tồn riêng trong biển cả trước khi trở thành những chú cua sơ sinh và tự tìm đường quay trở lại rừng già bằng một cuộc di cư khác.Trứng cua đỏ là “thức nhắm” ưa thích của nhiều loài cá biển, đặt biệt là cá voi Ấn Độ Dương (loài cá này chỉ xuất hiện tại vùng biển đảo Giáng Sinh vào mùa cua đỏ sinh sản).

Đàn cua lại tiếp tục trở về rừng sau khi “làm xong nhiệm vụ”, nhưng lần này do đã thông thuộc địa hình nên cuộc trở về chỉ mất khoảng 5 ngày.

 


Để giảm thiểu số lượng cua bị chết do các phương tiện giao thông, người ta đã dựng lên những hàng rào bằng ni-lông 2 bên đường và những chiếc “cầu vượt” để giúp cua có thể băng qua đường an toàn. Các phương tiện bị cấm hoạt động tại nhiều con đường vào mùa cua di cư.

Các tài xế được chỉ dẫn đi xe cẩn thận để không đè bẹp những người bạn tám cẳng hai càng. Loa phát thanh địa phương luôn cập nhật tình hình di cư của đàn cua cũng như các con đường bị cấm.

Người dân ở đây coi cua đỏ là biểu tượng, là niềm tự hào và là điềm lành. Nhiều quán ăn, quán café và khách sạn sử dụng hình ảnh cua đỏ để trang trí. Ly sinh tố dưa hấu có tên “Cuộc di cư màu đỏ” của quán café “Red Crab” là thứ thức uống ưa thích của nhiều du khách mặc dù hương vị của nó không hề đặc biệt hơn... một lon pepsi đá.

Học sinh, sinh viên luôn háo hức mong chờ đến mùa cua di cư để được giúp những chú cua băng qua đường an toàn, một công việc có ảnh hưởng tốt với môi trường.



Đảo Giáng Sinh của miền nhiệt đới không phải là một hòn đảo với các dịch vụ 5 sao nhưng thiên nhiên và con người nơi đây đem lại cho du khách cảm giác yên bình, không chút xô bồ. Người dân không cần khoá cửa khi ngủ và không bao giờ dùng đến chìa để khoá ô tô.

Có khoảng 400.000 du khách đến với hòn đảo nhỏ bé này nhằm chiêm ngưỡng cảnh tượng di cư ngoạn mục của những chú cua vào dịp cuối năm. Thiên nhiên và những câu chuyện lý thú của cuộc di cư màu đỏ cũng đã thu hút các nhà khoa học đến với hòn đảo Giáng Sinh, một hòn đảo nhỏ thân thiện và hấp dẫn.

 

Thông tin thêm

- Trên đảo có nhiều bãi biển đẹp và nguyên sơ như bãi biển Greta, bãi biển Lily, bãi biển Dolly… Thềm biển đảo Giáng Sinh có nhiều loài san hô và cá quý thích hợp cho các hoạt động lặn biển.

- Có khoảng 80.000 chú chim đang làm tổ trên đảo. Đa phần chúng là các loài chim biển, trong đó có nhiều loài đặc hữu với bộ lông sặc sỡ.

- Một số khách sạn và nhà nghỉ trên đảo: Hibiscus House, Mango Tree Lodge, The Retreat, Captain's Last Resort, …

- Mỗi tuần có 3 chuyến bay đến đảo Giáng Sinh: 1 chuyến bay từ thành phố Perth(Úc), 1 chuyến bay từ Singapore và 1 chuyến bay từ Malaysia.
Đọc thêm!

Bãi thải Bauxite và tác động môi trường

        Trên công trường nhà máy Bauxit
                  Nhân Cơ, Đăk Nông
                 Ảnh: timnhanh.com


Vietnamnet- Bauxit là tài nguyên khoáng sản khá dồi dào ở nước ta. Từ bauxit có thể thu hồi alumin (Al2O3), và điện phân sẽ được nhôm kim loại. Trong quá trình đó, để lại lượng bã thải rất lớn, nếu xử lý không tốt, có thể phá hoại môi trường.




Do nhu cầu về nhôm ngày một tăng mạnh, khiến việc tăng trưởng mạnh mẽ sản lượng nhôm ôxit (Alumin) làm nguyên liệu đầu trong sản xuất công nghiệp nhôm. Từ bauxit làm ra alumin (Al2O3), rồi tiếp tục điện phân sẽ được nhôm kim loại.

Việt Nam là một trong một số quốc gia có trữ lượng bauxit lớn trên thế giới, nhưng ngày nay mới bắt đầu khai thác (thế giới đã làm hàng thế kỷ). Chúng ta còn thiếu kinh nghiệm bảo vệ môi trường thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học khi khai thác và chế biến. Quặng bauxit nằm nông dưới mặt đất, nên diện tích khai thác rất rộng. Có thể tham khảo công nghệ khai thác và bảo vệ môi trường của các nước đã đi trước như Mỹ, Australia, Trung Quốc, châu Âu.

Quy trình sản xuất

Công nghiệp xản xuất nhôm là khai thác bauxit, tuyển rửa làm giàu quặng, sản xuất nhôm ôxit và điện phân nhôm. Để chuyển bauxit thành nhôm ôxit, phải nghiền quặng, trộn với đá vôi và xút; nung hỗn hợp này trong nồi cao áp. Quặng bị xút phân giải, sau khi kết tủa, rửa sạch, nung tách nước. Thành phẩm là chất bột trắng mịn hơn muối ăn, đó là alumin. Có một số công nghệ luyện như:

Công nghệ thủy luyện (Bayer) là phương pháp sản xuất chính tinh luyện quặng thô bauxit thành nhôm ôxit sạch. Trong quá trình hòa tách xuất nhôm ôxit theo công nghệ Bayer, quặng thải bauxit gọi là bùn đỏ. Bùn đỏ là chất không thể tránh khỏi trong quá trình sản xuất alumin. Bùn đỏ gồm các thành phần không hòa tan, khá bền vững trong điều kiện phong hóa như hematit; natri silicat; aluminat; canxi titanat; nhôm hidroxit, monohydrat, v.v… và đặc biệt chứa một lượng xút dư thừa, một hóa chất độc hại.

Về cơ bản bùn đỏ vẫn là các nguyên tố có trong thành phần của bauxit không hòa tan trong kiềm, song có thêm các hợp chất của natri hoặc canxi bổ sung trong sản xuất. Khối lượng bùn đỏ từ 0,4 – 2 tấn khô cho một tấn alumin thành phẩm, tùy thuộc vào chất lượng bauxit.

Việc thải bã trong sản xuất là vấn đề quan trọng 

Bùn đỏ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đặc biệt khả năng gây ô nhiễm nguồn nước ngầm là rất cao khi thải ra với khối lượng lớn trong thời gian dài (rất chậm đóng rắn).

Bãi thải bùn đỏ phải đáp ứng yêu cầu về môi trường, trước hết là bảo vệ chất lượng nước ngầm, các nguồn nước xung quanh. Chọn địa điểm làm bãi thải cần nắm vững các số liệu về: địa hình, thủy văn, địa chất, động đất, gió và tính chất của nền đất. Ngoài ra còn phải tính đến giá trị về nông nghiệp của diện tích đất làm bãi thải và quy hoạch phát triển lâu dài.

Trong số các cách thải bùn đỏ trên đất liền, thải ướt là tối ưu tại các khu vực. vây quanh bằng đê ngăn; thải vào thung lũng có đập chắn; thải trở lại khu vực đã khai thác xong.


Một bãi bùn đỏ sau khi khai thác
Bauxit tại Ấn Độ - Ảnh: Geho
Bùn đỏ khô rất mịn, dễ phát tán thành bụi mang theo hóa chất độc hại Na2O, gây ô nhiễm. Phải thường xuyên phun nước bề mặt bãi thải, để ngăn chặn bụi (vòi phun trên bề mặt), hoặc đảo, vì phía dưới bùn vẫn ướt. Phải chú ý việc thẩm thấu do nứt đáy bãi thải, gây ô nhiễm nguồn nước ngầm. Bã thải bauxit chưa xử lý có thể nguy hiểm cho sự an toàn của người tiếp xúc (gây bỏng hóa học). Chất lỏng trong bã thải bauxit có thể gây tác hại lên môi trường. Tính kiềm của bã thải còn gây những khó khăn trong việc phục hồi bề mặt của khu vực lưu giữ sau này.

Những sự cố có thể xảy ra

Đã chọn được địa điểm tối ưu cho bãi thải và nắm vững các phương pháp quản lý vẫn cần lưu ý đến những sự cố có thể xảy ra. Tuy nguy cơ bùn đỏ gây ô nhiễm cho môi trường là rất lớn, nhưng chỉ có thể xảy ra khi:

Bùn đỏ tràn bờ đập; phát tán bụi; vỡ đập… gây ra hậu họa khôn lường. Tuy nhiên, việc nứt đáy các bãi chứa cũng sẽ làm bùn đỏ thẩm thấu xuống lòng đất, gây ô nhiễm nguồn nước ngầm.

Trong bất kỳ trường hợp nào cũng cảnh giới mực nước ngầm trong quá trình vận hành. Nếu mưa lớn gây tràn, phải xả nước từ bãi thải, thì cần được trung hòa trước khi xả.

Nếu nắm được những khả năng gây hại có thể xảy ra, mà làm tốt các phương pháp bảo vệ, thì xác suất để ô nhiễm môi trường không gì đáng lo ngại.

Nguồn: http://vietnamnet.vn/khoahoc/201004/Ba-thai-Bauxit-va-tac-dong-moi-truong-904626/
Đọc thêm!

Các dự án bauxite gặp nhiều khó khăn

Nhà văn Nguyên Ngọc

clip_image003


Hai dự án thí điểm khai thác quặng bauxite và chế biến alumina đã được khởi công tại Tân Rai và Nhân Cơ tuy trong dư luận vẫn còn nhiều ý kiến trái chiều về hiệu quả của các công trình này.



Cuối tháng Tư mới đây, Phó Thủ tướng Việt Nam Hoàng Trung Hải cùng đoàn công tác đã tới thị sát hai dự án này. Cùng đợt với đoàn của ông Phó thủ tướng, một đoàn khác của một số trí thức trong nước cũng tới thăm công trường xây dựng nhà máy alumin Tân Rai.

Nhà văn Nguyên Ngọc, một người nhiều năm gắn bó và am hiểu Tây Nguyên, có mặt trong chuyến đi. Ông kể cho BBC nghe những điều 'tai nghe mắt thấy':

Nhà văn Nguyên Ngọc: Chuyến đi của chúng tôi kéo dài khoảng một tuần, từ Hà Nội bay vào TP Hồ Chí Minh, từ đó đi Kê Gà ở Bình Thuận, là nơi người ta dự kiến xây cảng nước sâu để sau này xuất khẩu bauxite thì đưa xuống đó. Từ Kê Gà, chúng tôi đi ngược lên Tân Rai, để xem con đường đó như thế nào.


Trong thời gian đó, trước chúng tôi hai ngày, có một đoàn công tác của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải cũng vào thăm các dự án bauxite. Nhưng họ đi Nhân Cơ, Tân Rai rồi mới xuống Kê Gà, tức là từ trên đi xuống.

BBC: Vậy là ông đã có mặt cả ở nơi khai thác, sản xuất, lẫn con đường vận chuyển. Thưa, xin ông cho biết hiện giờ việc thi công nhà máy alumina Tân Rai như thế nào?

Nhà văn Nguyên Ngọc: Ở Tân Rai, chúng tôi có gặp gỡ tiếp xúc với các anh em TKV (Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam) đang xây dựng nhà máy ở đấy. Chúng tôi không vào trong nhà máy, nhưng được đọc báo cáo của các anh ở đó, thấy nói đã thực hiện được 70%-80% công trình rồi. Nhà máy cũng đã thấy có ống khói.

Họ đang làm một cái hồ để chứa nước phục vụ nhà máy, rửa quặng v.v. nhưng có một điều chúng tôi hơi ngạc nhiên là đáng ra phải có một xưởng rửa quặng, xử lý quặng trước khi đưa vào nhà máy alumina, thì cơ sở này chưa có. Rồi một cái nữa, là hồ chứa bùn đỏ gồm tám ngăn, rất quan trọng. Chúng tôi có ra tham quan thì chưa thấy gì, mới chỉ thấy một khu vực hơi trũng xuống, được nói sẽ là hồ chứa bùn đỏ, nhưng hiện chưa có gì.

Vậy mà họ đăt mục tiêu là tháng 11 cuối năm nay sẽ có những mẻ alumina đầu tiên.

Nói chung, chúng tôi rất ngạc nhiên và cho là mục tiêu này khó có thể thực hiện được.

BBC: Thưa ông, công trình Nhân Cơ mới chính thức khởi công vài tháng nay (từ tháng 2/2010), nhưng công trình Tân Rai thì đã thực hiện từ khá lâu rồi (từ tháng 7/2008). Vậy nhưng thông tin công bố cho người dân, thí dụ như trên báo chí, về các dự án này cũng không có nhiều. Theo ông, đây có phải là một vấn đề không ạ?

Nhà văn Nguyên Ngọc: Người ta cứ lặng lẽ làm thôi và nếu làm được thì theo tôi cũng không có vấn đề gì cả. Thế nhưng như tôi đã nói, nhà máy alumina thì còn tàm tạm, nhưng trước và sau nó thì chưa có gì, cho nên mục tiêu cuối năm là rất khó.

Chúng tôi không đi Nhân Cơ, vì có thông tin nói chắc chắn là ở Nhân Cơ chưa làm gì hết. Năm ngoái chúng tôi đến thì họ đã san mặt bằng, tới nay được biết cũng chưa có thay đổi gì.

Phải hoãn ngày thực hiện khởi công dự án Nhân Cơ tới tháng 10, tức tám tháng sau khi Thủ tướng đã ra lệnh khởi công chính thức. Các anh em TKV nói nguyên nhân chính là do đàm phán với phía Trung Quốc chưa xong, bên kia có đưa ra một số điều kiện mới.

Vì vậy Nhân Cơ còn nằm im.

BBC: Khi tới Tân Rai, ông có chứng kiến hoạt động của công nhân nước ngoài không ạ?

Nhà văn Nguyên Ngọc: Chúng tôi có gặp một số lãnh đạo huyện Bảo Lâm, là địa phương có dự án Tân Rai. Các anh ấy cho biết là trước đây mấy tháng, công nhân Trung Quốc có ra ngoài, gây một số phiền nhiễu cho cộng đồng dân cư. Nay họ đã thống nhất với nhà máy là không cho số công nhân ấy ra khỏi địa bàn nhà máy nữa.

Vì thế chúng tôi không thấy người Trung Quốc nào cả.

Dự án bế tắc?
BBC: Chúng tôi có được đọc trên mạng internet một bức thư của một thành viên khác ở trong đoàn vừa đi thăm Tân Rai, ông Nguyễn Trung. Trong thư, ông Trung đánh giá hai dự án bauxite hiện nay đang "bế tắc". Không hiểu ông có đồng ý với nhận định đó không ạ?

Nhà văn Nguyên Ngọc: Cái khó khăn lớn nhất mà chúng tôi thấy rõ, là không có đường vận chuyển. Đi từ Kê Gà lên Tân Rai theo đường 28 thì thấy rằng con đường này hết sức dốc đứng và quanh co. Có đèo kéo dài tới 20 cây số, mà toàn là cua tay áo.

Tôi biết rõ địa hình Tây Nguyên: hai đầu rất cao, ở giữa lại tương đối bằng phẳng. Vì vậy từ Bảo Lộc, Đăk Nông ở cực Nam xuống dưới biển, con đường rất dốc.
clip_image005
Khai thác bauxite có thể ảnh hưởng nguồn nước
Đường 28 không thể dùng để vận chuyển alumin được vì chở alumin phải sử dụng xe đặc chủng, kéo container nặng tới 40 tấn. Đường 28 thì quá nhỏ, quá dốc, rất nguy hiểm.

Ngoài đường 28, phía Nam đi xuống Kê Gà còn đường 55 nữa. Nhưng đường này ngắn hơn đường 28 và còn hiểm trở hơn nữa. Do vậy việc vận chuyển bằng đường bộ sẽ hết sức khó khăn, mà làm đường xe lửa thì cũng rất tốn kém.

Tôi được biết Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải có đưa ra ý kiến rằng có thể sử dụng đường 14, là đường từ Ban Mê Thuột đi xuống Bình Phước, Bình Dương rồi xuống cảng Gò Dầu (Bà Rịa).

Để tới đường 14, thì phải đi ngược lên một đoạn. Mà đường 14 hiện nay cũng chỉ là đường nhỏ, muốn sử dụng thì phải nâng cấp, mà lại chưa có ngân sách để nâng cấp con đường này.

Tóm lại, tôi nghĩ ý của anh Nguyễn Trung khi dùng từ "bế tắc" là để chỉ các vấn đề về vận tải. Vấn đề về nhà máy này khác thì cũng giải quyết được thôi, nhưng xong rồi thì chở đi đâu?

Chẳng lẽ sản xuất xong alumina lại đào đất chôn lại vì không có đường đi đâu cả?

Mà nãy giờ chúng ta mới chỉ đề cập các vấn đề kỹ thuật chứ chưa nói tới khía cạnh kinh tế. Vận chuyển khó khăn như thế thì giá thành sẽ đội lên rất cao.

Hơn nữa, chúng ta sẽ chỉ xuất khẩu nguyên liệu sơ chế chứ chưa phải sản phẩm tinh chế. Giá alumina chỉ bằng 12% giá nhôm.Mà bán bauxite thì ngoài Trung Quốc ra thì chẳng có ai mua cả. Như vậy chắc chắn là lỗ.

BBC: Thưa bản thân ông đã đưa ra nhiều cảnh báo về ảnh hưởng của các dự án khai thác bauxite với môi trường và không gian văn hóa của Tây Nguyên. Sau chuyến đi vừa rồi, ông có thấy quan ngại của mình được giải tỏa phần nào hay không ạ?

Nhà văn Nguyên Ngọc: Chúng tôi có đến một xóm nhỏ có khoảng hai chục nhà ở của người K'Hor. Đây là khu tái định cư mà TKV xây cho người địa phương ở đó, nhưng nhìn nó thì không thể nào nghĩ đây là làng của người dân tộc được. Mỗi gia đình một cái nhà ống, trên lợp tôn.

Tôi gặp một bà cụ ở ngay nhà đầu, thấy bà ấy than là không thể nuôi được lợn gà, đi làm rẫy thì quá xa, nên chỉ còn cách là đi làm thuê cho người Kinh ở gần đây thôi. Con cái họ thì nghèo khổ, không có điều kiện học hành.

Bà con dân tộc không thể sống trong điều kiện như vậy được. Một thời gian nữa thì chẳng còn dân tộc, cũng chẳng còn văn hóa.

Trong quá trình chúng ta đã làm nhiều cái sai lớn. Có thể nói là mình đã phá nát Tây Nguyên rồi.
Rừng tự nhiên ở Tây Nguyên đã bị phá hết trong mấy chục năm nay. Một trong những chức năng của rừng là giữ nước, khi mưa nó không đổ ào xuống hạ nguồn mà chảy từ từ xuống đồng bằng, thiên nhiên đã tạo ra rừng tuyệt vời như vậy.

Từ kỹ thuật tới kinh tế, môi trường, xã hội... nhiều vấn đề vô cùng. Nếu nhận định là "bế tắc" thì tôi cho "bế tắc" là tốt, vì chúng ta hãy dừng lại đi.

Nhà văn Nguyên Ngọc

Vấn đề lớn nhất ở Tây Nguyên hiện nay sau vấn đề rừng là vấn đề nước. Làm bauxite, phá nát bề mặt, sẽ ảnh hưởng tới nguồn nước Tây Nguyên.

Tôi khuyến cáo dừng hết mọi hoạt động khai phá ở Tây Nguyên và ra sức trồng rừng trở lại trong 100 năm. Có người nói tôi cực đoan nhưng nếu không làm như vậy thì tan tành hết.

BBC: Những lời kiến nghị giới trí thức đã đưa ra khá nhiều nhưng như ông nói, người ta vẫn cứ "lặng lẽ làm". Vậy những quan sát và ý kiến lần này, ông sẽ gửi tới những người có trách nhiệm như thế nào và liệu họ có lắng nghe hay không?

Nhà văn Nguyên Ngọc: Chúng tôi phản ánh ý kiến qua Liên hiệp các hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam, nơi đã lên tiếng đầu tiên trong việc phản biện bauxite.

Những điều chúng tôi kiến nghị cách đây gần hai năm, thì bây giờ đã xảy ra.

Trong đoàn công tác vừa rồi của ông Hoàng Trung Hải, có ông Dương Văn Hòa, Phó Tổng Giám đốc TKV. Ông Hòa có nói rằng từ nay tới 2020 sẽ không làm thêm một công trình bauxite nào khác nữa ngoài hai công trình Nhân Cơ và Tân Rai. Tức là TKV cũng đã thấy quá nhiều khó khăn.

Sau khi chúng tôi có ý kiến phản biện, Chính phủ đã quyết định là chỉ làm thí điểm hai dự án. Hiện đang làm Tân Rai (Lâm Đồng), còn Nhân Cơ (Đắk Nông), theo tôi nếu mà phân tích tốt hơn nữa thì có thể không làm.

Từ kỹ thuật tới kinh tế, môi trường, xã hội... nhiều vấn đề vô cùng. Nếu anh Nguyễn Trung nhận định là "bế tắc" thì tôi cho "bế tắc" là tốt, vì chúng ta hãy dừng lại đi.


21/05/2010

Đọc thêm!

Việt Nam có tránh được lời nguyền tài nguyên?


Phạm Duy Hiển
imageQuy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến quặng bauxite do TKV trình và được Chính phủ phê duyệt tháng 11.2007, đã toát lên một tinh thần khẩn trương, chạy đua với thời gian để năm 2015 đạt 6 – 8,5 triệu tấn alumina, và tăng tốc mạnh hơn nữa đến 15 triệu tấn vào năm 2025.
Ngay đến Trung Quốc, nước hàng đầu thế giới cả về alumina lẫn aluminium (nhôm), với Tập đoàn Chalco hùng mạnh, khai thác khoáng sản khắp nơi trên thế giới, cũng chỉ sản xuất hơn 8 triệu tấn alumina hàng năm. Trớ trêu hơn, toàn bộ sản lượng khổng lồ ấy của ta lại phải xuất sang Trung Quốc, nước vừa cung cấp công nghệ vừa bao tiêu sản phẩm cho hai nhà máy đầu tiên, Tân Rai và Nhân Cơ, và chắc chắn sẽ tiếp tục làm như thế cho các nhà máy sau.
Trong khi đề xuất một kế hoạch quá mạo hiểm như vậy, lại không hề nói rõ bao giờ ta mới nội địa hóa và làm chủ được công nghệ chế biến alumina, một công nghệ quá cổ điển, đã có từ cuối thế kỷ XIX.
GS Phạm Duy Hiển



SGTT - Nước ta giàu tài nguyên khoáng sản đến mức nào? Về việc này có lẽ nên nhắc lại một phát biểu dựa trên khoa học địa chất và ý tưởng thống kê của A. P. Aleksandrov, nguyên Chủ tịch Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, theo đó trữ lượng khoáng sản của một nước nói chung tỷ lệ thuận với diện tích của nước ấy.

Chả thế mà Nga, Trung Quốc, Mỹ, Canada, Ấn Độ, Australia, Brazil... luôn dẫn đầu thế giới về sản lượng hầu hết các loại khoáng sản. Nước ta đất chật người đông, cho dù thượng đế có ưu ái cũng không thể hóa phép để biến một nước có diện tích thứ 65 trên thế giới (dân số thứ 13) trở thành cường quốc về tài nguyên thiên nhiên. Gần đây, bauxite Tây Nguyên và cát đen chứa titan dọc theo ven biển miền Trung được xem như một lợi thế tài nguyên lớn của đất nước. Song nhiều chuyên gia địa chất lâu năm lại tỏ ra dè dặt về những con số trữ lượng dường như được thổi phồng, thậm chí họ còn nhắc nhở thêm: cái mà thế giới cần, ta không có, còn cái ta có, thế giới lại không cần, hoặc họ có nhiều hơn.

Trên thực tế, hai mặt hàng khoáng sản lớn nhất của Việt Nam là dầu và than đá, dầu mỏ đứng thứ 36 trên thế giới (hơn 300 ngàn thùng/ngày), than đá thứ 17 (41 triệu tấn). Xem ra, chúng ta không nằm ngoài quy luật thống kê vừa nói trên. Năm 2008, xuất khẩu khoáng sản của ta chỉ chiếm 20% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó 80% là dầu thô, 10% than đá, và các khoáng sản khác chỉ chiếm 10%.

Có tài nguyên dồi dào mới chỉ là tiền đề, xử lý chúng thế nào mới là chuyện quyết định. Liệu việc đào bới cát đen trong mấy chục năm qua đã sinh lợi cho ai, và nguồn lợi mà Chính phủ thu được có thấm thía gì nếu muốn khôi phục lại vùng ven biển miền Trung đã bị tàn phá hay không?

Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến quặng bauxite do TKV trình và được Chính phủ phê duyệt tháng 11.2007, đã toát lên một tinh thần khẩn trương, chạy đua với thời gian để năm 2015 đạt 6 – 8,5 triệu tấn alumina, và tăng tốc mạnh hơn nữa đến 15 triệu tấn vào năm 2025. Ngay đến Trung Quốc, nước hàng đầu thế giới cả về alumina lẫn aluminium (nhôm), với Tập đoàn Chalco hùng mạnh, khai thác khoáng sản khắp nơi trên thế giới, cũng chỉ sản xuất hơn 8 triệu tấn alumina hàng năm. Trớ trêu hơn, toàn bộ sản lượng khổng lồ ấy của ta lại phải xuất sang Trung Quốc, nước vừa cung cấp công nghệ vừa bao tiêu sản phẩm cho hai nhà máy đầu tiên, Tân Rai và Nhân Cơ, và chắc chắn sẽ tiếp tục làm như thế cho các nhà máy sau. Trong khi đề xuất một kế hoạch quá mạo hiểm như vậy, lại không hề nói rõ bao giờ ta mới nội địa hóa và làm chủ được công nghệ chế biến alumina, một công nghệ quá cổ điển, đã có từ cuối thế kỷ XIX.

Chúng ta đã có quá nhiều bài học thất bại về làm chủ công nghệ. Sau hàng chục năm xây dựng công nghiệp ôtô, mức độ nội địa hóa chỉ quanh quẩn 4 – 5%. Với 100 đôla xuất được từ hàng may mặc ta phải nhập khẩu thiết bị, nguyên vật liệu đến 80 đôla ngay từ các nước láng giềng. Năm nay Việt Nam mới bắt đầu có sản phẩm lọc dầu nội địa, chậm hơn Thái Lan và Malaysia đến vài chục năm. Song có nhà máy lọc dầu không đồng nghĩa với làm chủ công nghệ hóa dầu. Tình trạng chậm tiến độ do trục trặc kỹ thuật tại nhà máy Dung Quất gần đây cho thấy làm chủ công nghệ, ngay chỉ ở mức độ vận hành suôn sẻ những công nghệ nhập từ nước ngoài, vẫn còn lắm gian nan.

Tại sao người Việt Nam không bước lên được quỹ đạo mà người Hàn Quốc đã ung dung trên đó từ cách đây bốn thập kỷ?

Hàng trăm đề tài được nghiệm thu xuất sắc về chế biến quặng ilmenit để tạo ra bột TiO2, zircon... , vẫn nằm trong ngăn kéo. Trong khi đó, qua chuyến khảo sát gần đây tại Bình Thuận, nơi dự kiến có lượng ilmenit và zircon đến hơn 6 triệu tấn, chúng tôi được xác nhận rằng cách có lời nhất là bán ilmenit sơ chế thô (qua khâu tuyển trọng lực) cho Trung Quốc, rồi mua lại của họ các thành phẩm chế biến tiếp theo.

Cần phải nhận dạng cho đúng tại sao chúng ta thất bại, không làm chủ được công nghệ trong rất nhiều ngành công nghiệp. Việc này sẽ giúp chúng ta đi đúng quỹ đạo công nghiệp hóa – hiện đại hóa, để không sa lầy vào cái “bẫy thu nhập trung bình”. Nhưng cho dù có những thất bại vừa qua, chúng ta không được phép hạ cái khẩu hiệu “khoa học – công nghệ là then chốt” xuống trong khi rất cần trưng nó lên để hoạch định một ngành công nghiệp hướng đến thương hiệu quốc gia dựa trên lợi thế tài nguyên thiên nhiên của mình.

***
Có tài nguyên không thể không khai thác. Nhưng không vội, không vơ vét, vì còn phải dành cho con cháu mai sau, và vì phải có đủ thời gian để học làm chủ công nghệ. Nhất quyết không bán rẻ tài nguyên cho nước ngoài. Cát đen không những chỉ chứa TiO2, monaxit, đất hiếm mà trong đó còn có zircon, từ đó làm ra hợp kim zircaloy cho vỏ thanh nhiên liệu trong nhà máy điện hạt nhân, còn có thorium, nguồn nhiên liệu tương lai có thể thay thế cho uranium đang cạn dần. Vậy tại sao phải ra sức đào bới các đụn cát xinh xắn mà thượng đế đã dày công vun đắp để chắn sóng, che gió, để từ nước mưa chắt lọc ra những mạch nước mội ngay sát bờ biển... rồi đem cát đen ấy bán vội cho nước ngoài? Như thế đâu phải là công nghiệp hóa – hiện đại hóa!

Có người phản biện: “Các nước ngày nay giàu có chính là nhờ vơ vét tài nguyên để công nghiệp hóa trong hàng trăm năm qua, có còn gì dành lại cho con cháu họ đâu?” Xin thưa, ít ra họ cũng còn truyền lại khối tri thức khoa học – công nghệ khổng lồ làm của hồi môn cho con cháu.

PDH
Nguồn: SGTT
Đọc thêm!

Bauxite Tây Nguyên có nguy cơ bế tắc về vận chuyển

Bất chấp những lời khuyên can, Chính phủ Việt Nam vẫn tiến hành hai dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên, gọi là để thí điểm. Tuy nhiên theo nhà văn Nguyên Ngọc, dự án Tân Rai đã bộc lộ những tác động tiêu cực về môi trường, xã hội, kinh tế... nhưng bế tắc nhất là việc vận chuyển đến nơi xuất khẩu.


Thanh Phương/RFI tiếng Việt thực hiện
Những gì các bản Kiến nghị liên tiếp đưa ra trong hai tháng tháng 4 và 5 năm 2009 đến nay ngày càng được thực tế xác nhận. Các ngài còn chần chừ gì nữa? Trước mắt, con đường tối ưu, lại giữ được danh dự cho đất nước, là dừng tất cả mọi dự án lại và từng bước khôi phục môi sinh cũng như văn hóa bản địa cho vùng đất Tây Nguyên.
Bauxite Việt Nam

Bất chấp những lời khuyên can, Chính phủ Việt Nam vẫn tiến hành hai dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên, gọi là để thí điểm. Tuy nhiên theo nhà văn Nguyên Ngọc, dự án Tân Rai đã bộc lộ những tác động tiêu cực về môi trường, xã hội, kinh tế... nhưng bế tắc nhất là việc vận chuyển đến nơi xuất khẩu.

Bất chấp những lời khuyên can của các nhà khoa học, các chuyên gia, các nhà trí thức, Chính phủ Việt Nam đã quyết định cho tiến hành hai dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên, gọi là để thí điểm. Sau chuyến đi thị sát trong tháng Tư vừa qua, Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải đã đánh giá rằng, nhìn chung, kết quả triển khai hai dự án bauxite Nhân Cơ, Đắc Nông và Tân Rai, Lâm Đồng “đáp ứng tương đối yêu cầu thi công cơ bản, thực hiện tốt công tác quản lý lao động theo đúng quy định luật pháp, bảo đảm an toàn, an ninh”.

Thật ra thì hiện giờ, chỉ mới có dự án Tân Rai được thực hiện, còn dự án Nhân Cơ cho tới nay vẫn chưa được khởi công. Nhưng theo đánh giá của nhà văn Nguyên Ngọc, người cũng đã đi tham quan các khu vực đang thi công dự án bauxite, tuy mới bắt đầu được triển khai, dự án Tân Rai đã bộc lộ rõ những tác động tiêu cực về mặt môi trường, về đời sống người dân, về hiệu quả kinh tế v.v. đúng như cảnh báo trong những ý kiến phản biện trước đây. Đặc biệt, vấn đề khó khăn nhất, nếu không muốn nói là bế tắc, đó việc vận chuyển alumina từ Tây Nguyên đến nơi xuất khẩu. Sau đây mời quý vị nghe phần phỏng vấn với nhà văn Nguyên Ngọc.


RFI : RFI Việt ngữ hôm nay rất hân hạnh được tiếp chuyện với nhà văn Nguyên Ngọc để nói về việc thực hiện các dự án bauxite ở Tây Nguyên. Vừa qua, ông có đi tham quan một vòng những nơi đang tiến hành các dự án đó. Trước hết, ông có nhận xét như thế nào về tiến độ thực hiện?

Nhà văn Nguyên Ngọc: Vừa rồi chúng tôi có đi một số nơi, thứ nhất là Kê Gà, tức là cảng mà từ đó người ta dự kiến sẽ xuất khẩu bauxite, thứ hai là đi ngược từ Kê Gà lên Tân Rai, Bảo Lâm, là con đường cũng được dự kiến sẽ được dùng để chở bauxite, rồi đi Tân Rai, tức là nơi đang xây dựng nhà máy alumina đầu tiên. Chúng tôi không đi Nhân Cơ vì biết là ở Nhân Cơ chưa có làm gì. Sau đó, chúng tôi đi Đà Lạt và Ban Mê Thuột, để gặp những bộ phận có trách nhiệm chung đối với Tây Nguyên.

Ở Tân Rai thì tôi thấy là nhà máy alumina đã làm được khá. Theo những anh em ở TKV, tức là Tổng Công ty Than Khoáng sản, đang làm ở đây, có thể đã làm được từ 70 đến 80% nhà máy. Công việc ở Tân Rai có vẻ là tiến triển tương đối tốt hơn. Còn ở Nhân Cơ thì từ năm ngoái đã làm mặt bằng, nhưng tới bây giờ thì cũng chưa có gì thêm.

RFI: Thưa ông Nguyên Ngọc, khi tới tại chỗ để quan sát tình hình, ông thấy là dự án Tân Rai có đã bắt đầu tác động đến môi trường, rừng, đời sống người dân địa phương hay không?

NN: Những cái này thì bây giờ chưa bộc lộ rõ đâu. Ở Tân Rai thì đã có một nhà máy, mà như tôi đã nói, đã làm được từ 70 đến 80%. Đúng ra thì phải có một nhà máy khác là nhà máy tuyển quặng, phải được xây trước, tức là quặng phải qua đó rồi mới vào nhà máy alumina. Nhưng hiện giờ chưa làm gì cả. Người ta có xây một hồ nước, sẽ cung cấp nước cho toàn bộ khu vực nhà máy. Còn khu vực sẽ rộng lớn hơn nhiều, mà người ta gọi là khai trường, tức là nơi sẽ làm mỏ đấy, thì nay chưa làm gì. Cho nên, những tác động thì chưa có gì. Nhưng nhìn chung thì chúng tôi thấy thế này: Một là tiến độ của nhà máy Tân Rai. Người ta nói là cuối năm nay sẽ ra mẻ alumina đầu tiên. Nhưng tôi nghĩ là sẽ không đạt được tiến độ đó đâu, bởi vì nhà máy tuyển quặng chưa làm. Một cái quan trọng và cái đáng lo nhất là hồ chứa bùn đỏ, thì chưa thấy làm gì, người ta chỉ mới cho biết quy hoạch như thế thôi.

Còn đối với đời sống nhân dân ở vùng này, tôi có đến thăm một làng của người Cơ Ho, bao gồm khoảng mấy chục hộ người Cơ Ho đã bỏ làng đi để nhường đất đai cho nhà máy. TKV đã làm tặng cho dân một cái làng, nhưng khi đến đó thì tôi thấy nó không còn hoàn toàn là cái làng dân tộc nữa, mà giống như một cái phố, nhưng hết sức là thô sơ. Mỗi nhà có bề ngang khoảng 3 mét, dưới dạng nhà ống. Người Cơ Ho chưa bao giờ sống như thế. Bà con ở đó cho biết là ở làng cũ họ có thể chăn nuôi gà, lợn, bò, còn ở đây thì không có điều kiện đó nữa. Cho nên, tổ chức lại đời sống người dân như thế cũng không ổn.

Còn những vấn đề rừng thì ở khu vực này không có nhiều rừng, nhưng đây là vùng trồng chè. Ảnh hưởng lớn nhất đó là đất trồng chè bị mất đi rất nhiều. Người ta có nói là sau khi khai khoáng xong thì sẽ hoàn thổ, tạo điều kiện cho trồng trọt trở lại. Nhưng các nhà khoa học đã phân tích rồi và nhiều người cũng đã nói: vấn đề không phải là đất, mà là thổ nhưỡng, tức là anh lấy đất đi, rồi đổ lại ở đấy, thì sẽ làm thay đổi thổ nhưỡng. Có người nói là phải mất mấy trăm năm mới trở lại điều kiện trồng trọt như trước.

Qua chuyến đi chúng tôi thấy rằng vấn đề khó nhất hiện nay chính là vấn đề vận chuyển. Con đường mà chúng tôi đi từ Kê Gà lên Tân Rai gọi là con đường 28. Đó là con đường rất dốc. Đặc điểm địa hình của Tây Nguyên là ở phía Bắc có dãy núi Ngọc Linh, cao nhất Tây Nguyên và ở phía Nam là núi Chư Yang Sin, cao thứ nhì ở Tây Nguyên, còn ở đoạn giữa thì bằng phẳng. Cho nên từ phía Nam, tức là từ phía Bảo Lộc, Đắk Nông mà đi xuống các vùng ven biển, tức là con đuờng 28, là con đường rất dốc. Có đoạn đèo dài từ 20 đến 30 km, toàn dốc và cua tay áo. Cho nên hiện nay, đường này rất hẹp và sau này nếu mở rộng thì rất khó khăn, một bên núi cao, một bên là vực. Mà dầu có mở rộng thì việc vận chuyển cũng sẽ cực kỳ khó, vì những xe chở alumina là những xe chuyên dụng. Theo những anh em ở TKV, những xe đó phải kéo những container 40 tấn, tôi nghĩ là không thể chạy trên đường đó được.

Phía Nam con đường 28, cũng có một con đường cũng đi xuống Bình Thuận là đường 55. Đường 55 lại còn dốc đứng hơn nữa, càng hiểm trở hơn nữa. Cả hai con đường đó theo tôi đều không thể được sử dụng để vận chuyển bauxite. Còn nếu xây đường xe lửa như ý định trước đây thì sẽ vô cùng tốn kém. Cũng có ý kiến như Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải rằng nên sử dụng con đường 14, tức là chở ngược bauxite từ Tân Rai, Bảo Lâm lên gặp con đường 14, con đường từ Ban Mê Thuột xuống Sài Gòn, qua Bình Phước, Bình Dương, đến cảng Gò Dầu của Bà Rịa. Con đường đó là con đường dân sinh, xe vận tải chạy một thời gian ngắn thôi là nát hết đường. Cho nên muốn sử dụng thì phải nâng cấp con đường đó lên. Theo những tin tức từ chuyến đi của Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải thì cũng chưa có ngân sách để nâng cấp con đường cho việc vận chuyển alumina. Cho nên, việc vận chuyển sẽ hết sức gay cấn. Theo tôi, đó là cái bế tắc nhất. Ấy là chưa nói việc vận chuyển sẽ tác hại về môi trường ở hai bên đường.

RFI: Tức là theo ông, những chi phí để xây những đường đó sẽ rất lớn, quá lớn so với thu nhập từ việc xuất khẩu alumina?

NN: Chắc chắn là như thế và điều này thì trong những phản biện trước đây, các nhà khoa học và các nhà kinh tế cũng đã nói rồi. Bây giờ người ta lại làm cách là không tính cái đó vào trong dự án bauxite, mà tính vào hạ tầng quốc gia, để mà tránh đi. Trên thực tế, những con đường đó sẽ không được sử dụng vào mục đích nào khác ngoài việc vận chuyển bauxite. Tất cả những cái đó đều là tổn phí cả và sẽ đưa giá sản phẩm lên rất là cao. Mà ở đây, ta cũng chỉ mới làm đến alumina, tức là nguyên liệu sơ chế, chứ chưa phải là tinh chế, giá của nó rất thấp so với giá nhôm, vì vậy chắc chắn là lỗ thôi. Ấy là chưa nói alumina trên thế giới bây giờ cũng bão hòa và người mua duy nhất là Trung Quốc, mà trong kinh doanh, nếu chỉ bán cho một bạn hàng thì nguy hiểm lắm. Mình sẽ lệ thuộc hoàn toàn vào người bạn hàng duy nhất đó và sẽ dễ bị ép giá. Thậm chí như một số mặt hàng khác, đôi khi họ không thèm mua nữa. Như các nông phẩm của ta, tự nhiên họ dừng lại, không mua nữa, thì mình chết.

RFI: Qua những trình bày ở trên thì rõ ràng là các dự án bauxite đã bắt đầu có những tác động tiêu cực vê nhiều mặt. Theo ông, trước khi quá muộn, chúng ta có nên dừng hoàn toàn các dự án khai thác bauxite Tây Nguyên hay không?

NN: Những gì đang diễn ra bây giờ chứng tỏ là những ý kiến phản biện của các nhà khoa học, các nhà kinh tế về cơ bản là đúng, ví dụ như vấn đề đất đai, vấn đề môi trường, vấn đề kinh tế, vấn đề vận chuyển, ô nhiễm nước, thiếu nước, v. v. tuy rằng dự án chỉ mới bắt đầu, chưa có nhà máy nào chạy. Trong chuyến đi vừa rồi, khi chúng tôi đi từ dưới biển lên, thì có một phái đoàn của Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải cùng với các lãnh đạo TKV đi ngược từ trên xuống, từ Tân Rai, Nhân Cơ xuống Kê Gà. Chúng tôi được biết là trong chuyến đi đó, ông Hoàng Trung Hải đã thông báo hoãn ngày tính tiến độ, tức là ngày khởi công Nhân Cơ. Trước đây, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ra lệnh khởi công Nhân Cơ từ tháng 2, bây giờ thì Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải bảo là hoãn đến tháng 10. Qua chuyến đi đó, ông Dương Văn Hòa, Phó Tổng giám đốc TKV, tuyên bố là từ đây đến năm 2020 sẽ không làm bất cứ gì ngoài hai dự án này. Như vậy, TKV đã cảm thấy rất là khó khăn rồi.

Về phần tôi, tôi nghĩ thế này: Đối với Tân Rai thì đã làm rồi, nên không thể dừng được, cho nên cứ phải làm, mặc dù hiệu quả về nhiều mặt, nhất là kinh tế, sẽ bị lỗ. Còn Nhân Cơ thì nên dừng lại.

RFI: Xin cám ơn nhà văn Nguyên Ngọc.
Đọc thêm!