Trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn Tiếng nước tôi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tiếng nước tôi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 13 tháng 4, 2015

Chuyện tên riêng viết hoa

Từ ngữ được viết hoa, là một phát minh, mãi sau này mới có. Xưa kia người ta viết từ nào cũng “như nhau”, như nhau bởi vì trong đầu người ta chỉ biết có thế. 


Chỉ đến khi có sự tiến triển của tư duy, biết phân biệt được từ để gọi chung, và cũng từ ấy nhưng là tên riêng, nhu cầu ấy mới thúc đẩy việc tạo ra “chữ hoa” để mà tạo ra sự phân biệt. Như khi viết Cụ Hinh thì đó không phải là cụ, và cũng chẳng phải là hinh.

Một số nhà viết xứ Việt lại đua nhau theo trò chơi khác: muốn nâng nựng ai, hoặc nâng nựng một tổ chức nào, tóm lại: hứng lên, thì viết hoa nó lên! Nói theo mốt ngày hôm nay, thì đó là triệu chứng “đã dốt, còn tỏ ra nguy hiểm”.

Ca ngợi nhà nào đó, tự nhiên viết trống không “hoa” lên, thành những “Anh”, “Người”, “Ông”, “Cụ”. Nhưng thói thị phi thì vẫn vô thức lòi nguyên ra đó, vì hiếm thấy, hoặc không thấy viết “hoa” những “Bà,” “Chị”, “Em”, “Cháu”, “Chắt"…

Một danh từ chức vụ, tự nhiên người viết lên cơn khen nựng nhau, thế là viết nó thành “hoa” luôn, cứ như là danh từ riêng vậy. Nào bác Giám đốc trang trại, ông Chủ tịch phường, ngài Bí thư xã đội, bác gái vợ Trung tướng, cố Giáo sư, bà Tiến sĩ, v.v. Nhưng thói thị phi thì vẫn vô thức lòi nguyên ra đó, vì hiếm thấy, hoặc không thấy viết “hoa” những “Bảo vệ viên”, “Cấp dưỡng viên”, “Nhân viên”, “Bơm xe viên”…

Các tổ chức, là danh từ chứ không là tên riêng, dù có quan trọng đến đâu đi nữa. Ví dụ, đại sứ quán Việt Nam, chính phủ Việt Nam, quốc hội Việt Nam, nhà nước Việt Nam… thì những từ “đại sứ quán”, “chính phủ”, “quốc hội”, “nhà nước” là danh từ, chứ không phải là tên riêng, xin mời viết thường.

Được viết hoa, xin nhắc lại, chỉ là để phân biệt xem từ đó là danh từ, hay là tên riêng.
Tội đồ Hitler, thì vẫn phải viết hoa Hitler, vì đó là tên riêng, chứ không phải vì kinh tởm ông ta mà tôi viết thành ra không hoa, thành hitler, cho sáng lập trường.

Còn nhân dân, dẫu tôi yêu quí, thì tôi cũng không có quyền viết thành “hoa”, thành Nhân Dân, để chứng minh rằng tôi yêu quí nhân dân.

Nếu tôi muốn không tuân thủ ngữ pháp, hệ thống qui tắc viết nhằm để diễn tả được chính xác thông tin, thì tôi phải đề nghị, trao đổi để thay đổi ngữ pháp, chứ không phải tôi ngọ nguậy tùy hứng.

Vì, tôi không phải là người múa gậy một mình trên văn đàn.

Và một đất nước chỉ vào được qui củ, khi những qui tắc đã thỏa thuận rộng rãi được tôn trọng, trong hết thảy mọi lĩnh vực.
Đọc thêm!

Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2015

Lỗi nhỏ… cần sửa


Mỗi lần có tổ chức thế giới nào đó đánh giá (xếp hạng) các học viện và đại học trên thế giới, chúng ta lại biết được vị trí của các đại học và trường đại học tại VN. Tại sao tôi không chỉ nói đại học mà còn nêu lên trường đại học ở VN? Điều này dễ hiểu vì các tổ chức xếp hạng thế giới đều dùng Anh ngữ để tìm hiểu rồi đánh giá, và khi tìm hiểu về các đại học ở VN, họ không biết đến hiện tượng – chỉ có ở VN – là nhiều đại học (universities) trong một đại học (university). Ví dụ, Trường đại học Bách Khoa Tp.HCM, có tên tiếng Anh là University of Technology, không đứng độc lập mà là một thành viên thuộc Đại học Quốc gia Tp.HCM với tên tiếng Anh là Vietnam National University – HCMC. Mỗi trường đại học thành viên của Đại học Quốc gia Tp. HCM đều mang một tên tiếng Anh là “University…” Như vậy đây không phải là nhiều “universities” trong một “university” thì là gì? Trước khi nói tiếp câu chuyện trên, chúng ta cần tìm hiểu cho rõ ràng những từ Anh ngữ liên quan đến vấn đề này. Đó là các từ: university, faculty, college, và school. Tôi chỉ có trong tay quyển Oxford Advanced Learner’s Dictionary of Current English, Encyclopedic Edition, nên liền tra ngay các từ vừa nói. Các định nghĩa có liên quan với nhau của mỗi từ được chép lại dưới đây.

 university (colleges, buildings, etc of an) institution that teaches and examines students in many branches of advanced learning, awarding degrees and providing facilities for academic research…
 faculty … department or group of related departments in a university, etc: the Faculty of Law, Science, etc…
 college 1 institution for higher education or professional training… 2 (a) (in Britain) any of a number of independent institutions within certain universities, each having its own teachers, students and buildings: the Oxford and CambridgeColleges ○ New College, Oxford. (b) (in the US) university, or part of one, offering undergraduate courses…
 school … 2 (US) college or university: famous schools like Yale and Harvard… 5 department of a university concerned with a particular branch of study: the law, medical, history school ○ the School of Dentistry…
Nói chung, các nước sử dụng Anh ngữ làm tiếng mẹ đẻ như Anh, Canada, Mỹ, Úc, v.v., thường có mỗi “university” theo đúng nghĩa là đại học[nghiên cứu] tổng hợp nhiều ngành, và các trường thành viên – cũng có thể gọi là khoa – của “university” đó (nằm chung trong một “làng đại học – campus” hoặc nằm ở nhiều vị trí riêng biệt) đều được gọi là “faculty,” “college,” hoặc “school.” Chính vì vậy mà ở các thành phố lớn của các nước này thường có nhiều “universities” theo đúng nghĩa vừa nói. Đối với người Mỹ, “college” hoặc “school” cũng có nghĩa là trường đại học. Ngay ở Lào, Đại học Quốc gia Lào tại Vạn Tượng (National University of Laos [in Vientiane] – NUOL) có một trường thành viên là Trường đại học (hoặc Khoa) Khoa học Kỹ thuật – nằm tại một cơ ngơi khá rộng và ngoài “campus” của ĐHQG Lào – có tên Anh ngữ là Faculty of Engineering. Quá đúng! Còn tại VN thì sao?
Các trường đại học như Trường đại học Khoa học Tự nhiên, Trường đại học Bách Khoa, Trường đại học Quốc tế, v.v., thuộc Đại học Quốc gia Việt Nam – TP.HCM, khi viết như thế bằng tiếng Việt thì không có gì là sai sót cả. (Tôi đề nghị cần thống nhất là mỗi thành viên của một đại học lớn Đại học Quốc gia VN thì cần thêm từ “trường” để thành “Trường đại học …”, còn một “đại học” mang tên một ngành riêng thì nên thêm từ “trường” thành “Trường đại học X.” Ví dụ, Trường đại học Bách Khoa Hà Nội dù chẳng thuộc “ông đại học” nào cả nhưng chỉ chuyên về ngành khoa học ứng dụng và kỹ thuật thì nên gọi nó là “Trường đại học BK HN” chứ không nên gọi tắt là “Đại học BK HN”). Tuy nhiên, tên Anh ngữ của các trường thành viên của ĐHQGVN đúng là có vấn đề. Vấn đề ở đây là “Mẹ” được gọi là “University” mà “[các] Con” cũng là “Universities.” Điều này chẳng khác nào một bàn tay có năm ngón, mỗi ngón có một tên khác nhau, cho dù đó là tiếng Việt hay tiếng Anh. Nhưng chẳng lẽ người Việt khi dùng tiếng Anh để giao dịch khi nói đến bàn tay là “hand” và mỗi ngón tay cũng là “hand” hay sao? Lâu nay đã có một số người nêu lên vấn đề này nhưng cho đến nay chẳng có gì thay đổi cả. Cách nay khoảng 10 năm, tôi có trao đổi với một người công tác về quan hệ quốc tế của một trường thành viên ĐHQGVN (người này nói và hiểu tiếng Anh khá tốt, và đã được công tác tại một số nước nói tiếng Anh) là khi một người nước ngoài – với Anh ngữ là tiếng mẹ đẻ – cầm một tuyển tập báo cáo khoa học với cả hai dòng chữ riêng biệt “Vietnam National University” và “University of ...” phía trên trang bìa thì ông/ bà ta sẽ nghĩ hội nghị đó do cả hai “universities” kể trên tổ chức. Câu đáp lời mà tôi nghe được là có thể tôi nói đúng nhưng “không sao, vì nhờ đó mà người nước ngoài ấy có cơ hội tìm hiểu thêm về trường đại học của ta.” Bó tay thôi với cách giải thích này. Tôi còn nghe một ông giáo sư tây kể lại lời giải thích về cái lỗi dùng từ này từ một quan chức đại học, nhưng xin cho tôi miễn kể lại ở đây.
Có một câu chuyện khác như thế này. Các ông giáo sư tây ưa khôi hài nói là VN thích “chơi” sang nên đặt ra Bộ Giáo dục và Đào tạo (Ministry of Education and Training – MOET) vừa giáo dục con người vừa huấn luyện thú vật. Đây chỉ là nói cho vui chứ sự việc chẳng có gì nghiêm trọng cả. Nhưng thực tế thì cụm từ “Đào tạo” có hơi bị thừa. Muốn hiểu lý do tại sao các vị ưa khôi hài có cớ để nói như vậy thì ta cứ tra trong cuốn tự điển tiếng Anh đã nói ở trên
 education 1 (system of) training and instruction (esp of children and young people in schools, colleges, etc) designed to give knowledge and develop skills: … 2 knowledge, abilities and the development of character and mental powers that result from such training: intellectual, moral, physical, etc education, …
 training process of preparing or being prepared for a sport or job … (Còn động từ train là “bring (a person or an animal) to a desired standard of efficiency, behaviour, etc by instruction and practice : ...”)
Như vậy, trong “education” đã có chuyện “training” rồi. Nhưng “education” là cả một hệ thống giáo dục dành riêng cho con người, còn “training” là quá trình đào tạo con người và huấn luyện thú vật. Do đó khi thêm từ “Đào tạo” vào trong “Bộ Giáo dục và Đào tạo” thì đó có nghĩa là “đào tạo con người và huấn luyện thú vật.” Đây chỉ là chuyện nhỏ, không cần phải sửa bỏ phần dư thừa. Nhưng chuyện các “universities” trong một “university” thì không phải như vậy. Đây là một lỗi không thể chấp nhận được.
Thế thì tại sao một lỗi nhỏ như vậy mà cho đến nay vẫn chưa sửa? Hay là các vị có trách nhiệm sợ phải tốn tiền cho sửa sai? Tiền sửa sai này chẳng thấm vào đâu so với nhiều lãng phí trong giáo dục, chẳng hạn như dự án 112. Vậy thì vấn đề nằm ở đâu? Qua một số lần trao đổi với nhiều người khác nhau về nền giáo dục VN, tôi hình dung ra vấn đề nằm ở chỗ mà nhiều người cũng thường nhắc tới là khi “trên” đã quyết định cái gì đó thì dù thế nào chăng nữa cũng không nên sửa đổi.
Một cái lỗi nhỏ như thế, cho dù không sửa cũng chẳng “chết” ai cả, nhưng nếu khả năng sửa đổi vẫn không có thì những chuyện lớn hơn bao giờ mới làm được đây?

NGUYỄN HẢI (Montréal)
Đọc thêm!

Chủ Nhật, 13 tháng 4, 2014

Dấu “Hỏi Ngã” Trong Văn Chương Việt Nam

Cao Chánh Cương
Văn hóa Việt Nam của chúng ta vô cùng phong phú. Một trong những nguồn phong phú vô ngàn mà trên thế giới không ai có, đó là ý nghĩa về dấu hỏi ngã. Viết sai dấu hỏi ngã sẽ làm đảo ngược và có khi vô cùng tai hại cho văn chương và văn hóa Việt Nam. Chúng tôi xin đơn cử một vài trường hợp như sau. 

Danh từ nhân sĩ, chữ sĩ phải được viết bằng dấu ngã để mô tả một vị chính khách có kiến thức văn hóa chính trị…, nhưng nếu vô tình chúng ta viết nhân sỉ, chữ sỉ với dấu hỏi thì ý nghĩa của danh từ nhân sĩ sẽ bị đảo ngược lại, vì chữ sĩ với dấu hỏi có nghĩa là nhục sĩ và như vậy sẽ bị trái nghĩa hoàn toàn. 

Đọc thêm!

Chủ Nhật, 6 tháng 2, 2011

"A bờ cờ" hay "A bê xê"?

Nhiều người thắc mắc cách phát âm các chữ cái trong tiếng Việt thật rắc rối, lúc thì “a bê xê”, lúc thì lại là “a bờ cờ”, thật là chẳng thống nhất tí nào cả. Vấn đề này thật ra rất đơn giản. 

Vấn đề chúng ta nhầm lẫn ở đây chính là ta muốn phát âm từ nó hay ta muốn đánh vần nó.



Phát âm (pronounce) nghĩa là tái tạo lại âm tiết thực trong quá trình giao tiếp. Việc xác định cách phát âm các nguyên âm rất đơn giản, vì nguyên âm là những âm đứng một mình có thể thành một từ hoàn chỉnh, thì phát âm là /a/, i thì phát âm là /i/. Còn đối với cách xác định việc phát âm phụ âm thì khác, bởi phụ âm không thể tự tạo thành từ hoàn chỉnh được. Chữ b trong thực tế giao tiếp được phát âm như thế nào? Muốn biết, phải kết hợp nó với một nguyên âm để tạo thành một từ, rồi phân chia từ đó ra thành các đoạn âm. Ví dụ, ta có chữ , giờ phân chia  thành các đoạn âm, tách lấy âm b, hay nói dễ hiểu hơn là bạn hãy thử đọc thật là chậm từ , bạn thấy chữ được phát âm như thế nào? Là “bờ” đúng không?

Vì phát âm chỉ có thể được diễn tả bằng cách nói, chứ không thể cách viết, nên mình ghi ở trên chữ phát âm là “bờ” không có nghĩa là bạn tròn vành rõ chữ mà đọc là /bờ/ được, mà phải dùng hơi bật ra âm /b/.

Trong nhiều ngôn ngữ dùng chung chữ cái, cách phát âm các chữ cái khá giống nhau, chữ l trong tiếng Anh, tiếng Pháp hay tiếng Việt thì cũng đều là lờ cả thôi. Ngược lại, trong cùng một ngôn ngữ, một chữ cái lại có thể phát âm nhiều cách khác nhau, chẳng hạn chữ c trong tiếng Anh có lúc phát âm là cờ (cat), có lúc là xờ (cent), hay như trường hợp g trong get hay gem vậy. Trong tiếng Việt không có chuyện này, vì chữ Việt là loại chữ phiên âm, mặt chữ và mặt tiếng thống nhất với nhau rồi.



Đánh vần (spell) là cách người ta quy ước chữ cái đó được gọi như thế nào để thuận tiện trong quá trình giao tiếp, hay dễ hiểu hơn đánh vần là đặt tên cho chữ cái. Khi đánh vần phụ âm, trong mỗi ngôn ngữ, người ta thống nhất mượn thêm một âm vị nào đó để diễn tả. Chẳng hạn là i trong tiếng Anh (bi, xi, đi), ê trong tiếng Pháp và tiếng Việt (bê, xê, đê), ay trong tiếng La Tinh (bay, kay, đay)…

Đánh vần được dùng rất nhiều trong đời sống hàng ngày, khi nhân viên bưu điện đề nghị đánh vần tên của bạn chẳng hạn, hay các từ viết tắt…Như vậy, để trả lời cho câu hỏi, ABC đọc như thế nào, ta nên hiểu họ đang hỏi cách đánh vần như thế nào. Và cũng có thể kết luận rằng việc báo chí đăng cái ý kiến “nên giữ gìn tiếng Việt, đọc VTV và “vờ tờ vờ” thay vì theo kiểu Pháp “vê tê vê”, kẻo lai Tây, mất gốc” là hoàn toàn nhảm nhí. Nếu đã nhìn nhận chữ Quốc Ngữ, thành quả của tập thể các giáo sĩ Bồ Đào Nha, Ý, Pháp, là chữ của người Việt Nam thì chẳng có lí do gì để nói cách đọc “a bê xê” không phải là cách đọc của dân tộc ta được.
Đọc thêm!

Tiếng mẹ đẻ

Phan Cẩm Thượng

Lịch sử chế độ quan liêu Việt Nam là lịch sử của bọn ăn không ngồi rồi, không dám chịu trách nhiệm, việc nào có đút lót thì sốt sắng, việc nào khó thì đùn lên quan trên, quan trên lạ đùn lên quan trên nữa, quan trên nữa thì đùn lên vua. Quá trình hành chính này sinh ra cách ăn nói vu vơ, không chết ai, không được việc gì, đầy sự cảm thông, cũng như đầy sự vô trách nhiệm.

1. Ngôn ngữ của một dân tộc là một quá trình rất lâu dài từ hàng vạn năm đến hàng ngàn năm phát triển. Tôi luôn nghi ngờ các nhà khảo cổ học và lịch sử quy định sự phát triển của một dân tộc với thước đo vài ngàn năm. Để có được một tiếng mẹ đẻ một tộc người cần xuyên qua quãng thời gian không ngắn như thế. Ngôn ngữ không phải là các ký hiệu chỉ vật chất hay ý thức nào đó, nếu thế chúng ta đã học ngoại ngữ rất dễ dàng, trái lại ngoài tiếng mẹ đẻ của mình ra không ai có thể thạo một tiếng mẹ đẻ thứ hai, mà chỉ có thể giỏi một hoặc nhiều ngoại ngữ. Ngôn ngữ chính là biểu cảm tâm hồn và trời đất quy định tâm hồn ta thuộc về một dân tộc nhất định. Ngay cả một đứa trẻ lớn lên với nhiều tiếng nói xung quanh, nó vẫn thường nằm mơ bằng một ngôn ngữ, và trong thầm thì và im lặng của tâm thức chỉ có duy nhất một tiếng mẹ đẻ.

Tiếng mẹ đẻ của bà tôi và của tôi là tiếng Việt, hay có lúc người ta gọi là tiếng Kinh. Bà bảo: Có củ khoai cho cháu, chạy sang hàng xóm mượn cho bà cái kéo, tiên sư anh lúc nào cũng ỉa non đái ép, ăn nhanh lên còn đi học không thằng bố mày lại gào lên, lậy Thánh mớ bái cho chúng con rộng đường làm ăn... Tôi thuộc lòng tất cả những lời lẽ này, nhưng lại không nói như thế nữa. Tôi có cách ăn nói của thế hệ mình. Như vậy cứ vài mươi năm tiếng mẹ đẻ lại thay da đổi thịt một lần, lớp nọ chồng lên lớp kia, cái cũ chưa mất đi, cái mới đã nẩy sinh, đó là sự sinh động của một ngôn ngữ. Sự thay đổi đó bây giờ còn diễn ra nhanh hơn, có khi vài năm, nhưng trước thế kỷ 19, một trăm năm ngôn ngữ mới đổi mới một lần. Do đó con người bây giờ có cái lợi thế của một xã hội năng động, nhưng người ngày xưa có cái lợi thế của người luôn có gốc rễ.

Khi một đứa trẻ lớn lên đầu tiên nó sẽ được học chào và mời. Gặp ai lớn hơn mình đều phải chào cả: chào ông chào bà, chào bố  chào mẹ, chào anh  chào chị, chào bác chào cô. Thông qua lời chào đứa trẻ sẽ phân biệt được các đại từ nhân xưng phức tạp của tiếng Việt, nó sẽ phải gọi mọi người bằng ngôi thứ đấy, theo tuổi tác, không thể nào chỉ có nỉ và wo hay you và I như tiếng Tầu và tiếng Anh. Thế là một tư duy phán đoán và   một thứ lễ nghĩa hình thành đi theo đứa bé trong quan hệ phức tạp của người Việt. Sau đó là học mời: mời bác vào chơi, mời bà xơi cơm, bà mời cơm, mời anh chị lại nhà, quý hóa quá, mời ông uống trà, mời sếp rửa tay. Rất sáo rỗng, nhưng tập tục lời chào cao hơn mâm cỗ, không thể không mời nhau. Khi ăn cơm người ta sẽ mời, nhưng không có nghĩa là bạn được ăn, cái đó gọi là mời rơi

Chào mời, rồi đến chửi. Người Việt xưa coi chửi là một tập tục rất bình thường khi họ bất bình và rất yêu thương, nhưng họ không hay văng tục, trừ một lớp người gọi là giang hồ tứ chiếng. Văng tục và nói đệm tục là một lối ăn nói dân dã đang có xu hướng phổ biến, mà thực ra nó chỉ phát triển từ cuối thế kỷ 19 đầu 20 trở lại đây. Mẹ mày, Đ mẹ mày, Đ.. L... mẹ mày, tiên sư mày, tiên sư cha mày, bố mày, Đ...cả lò nhà mày, đồ con đĩ, đồ con chó, đồ chó, chó cái liếm L..., đồ mặt L..., đồ gái đĩ già mồm, ngu như bò, ngu như chó, tham như lợn, nhẵn như cầu hàng thịt... 

Có thể nói, người Việt chửi rất chua ngoa và tục tĩu, trong đó toàn dùng các quan hệ tính dục với bậc trên của đối phương để sỉ nhục. Nó thể hiện sự bất lực của họ trong cuộc sống thường nhật và những ức chế không được giải tỏa. Xong tập tục chửi đổng có vần điệu và có bài bản lại là một nét sinh hoạt khác rất lâu đời. Chúng phần nhiều được các bà già mù chữ dùng để thóa mạ một đối thủ có quyền có chức hay ức hiếp dân lành, hoặc bọn trộm cắp trong làng. Ví dụ một bà già ở Bương Cấn, Quốc Oai, Hà Tây chửi khi mất gà:Cờ xanh cắm ngõ, cờ đỏ cắm nhà, bắt lấy tên, biên lấy tuổi, lên trình Nam tào sao Bắc đẩu, đứa nào ăn cắp con gà của bà. Con gà ở nhà bà là con công, con phượng, về nhà mày là con cú, con cáo. Nó mổ mắt cả lò nhà mày, mày hộc máu răng, mày văng máu mép, mày vật đống rơm, mày đơm đống rạ... Bài ca đó có thể kéo dài đến hai ba ngày, cho đến khi đối phương không thể chịu đựng được đành thả con gà ra. Rất buồn cười là kẻ ăn cắp được một con gà, về nhà thường lại thịt một con gà của nhà mình trước, đợi khi câu chuyện êm xuôi mới chén hoặc nuôi con gà ăn cắp. Người ta gọi đó là kẻ cắp nhà quê.

Làng xã là một xã hội khác so với những gì ta quan niệm. Đàn bà ở đó không được đi học, họ được yêu nhưng lấy ai lại do cha mẹ quyết định, có thời họ được thừa kế một phần tài sản của cha mẹ, nhưng đại thể là không. Họ có nghĩa vụ yêu thương chồng con vô điều kiện, cấy cầy và buôn bán. Như vậy phụ nữ Việt hoàn toàn khác với phụ nữ phương Đông nói chung và phụ nữ Hồi giáo, những người về cơ bản không phải ra chợ bán hàng, hay lao động nặng ngoài đồng ruộng. Nhưng vì thế mà người phụ nữ Việt có vai trò lớn trong gia đình, họ có đời sống tinh thần riêng bởi Phật giáo và các truyện thơ dân gian. Cái lời ăn tiếng nói của đàn bà trong làng là một phần rất phong phú trong ngôn ngữ tiếng Việt. Thân em như giếng giữa đàng / Người khôn rửa mặt người quàng rửa chân, Ước gì sông rộng tầy gang / Bắc cầu giải yếm cho chàng sang chơi; Người khôn ăn nói nửa chừng / Làm cho người dại nửa mừng nửa lo; Thà mất nửa sào trước cửa / Còn hơn mất nửa con đầu buồi... đều là tiếng nói của nữ nhi cả. Trẻ con Việt trước tuổi đi học (bẩy, tám tuổi) luôn ở cạnh mẹ và bà, nên mới có câu: Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà. Như vậy đời sống tâm thức của chúng hoàn toàn từ kiến thức dân gian và tâm hồn thiên về cái tình của người phụ nữ. Rất ít người Việt có đời sống lý trí mạnh, mọi việc đều phải giải quyết theo cái tình trước.

Tiếng nói thường nhật và tiếng nói văn học đôi khi lẫn lộn vào nhau. Có thể nói mỗi bà già Việt xưa đều là một kho cổ tích, tiếu lâm, ca dao dân ca, hát ru, thành ngữ tục ngữ thuần Việt, trong khi đàn ông chạy theo văn tự của Thánh hiền, những lời cao siêu trong Tứ thư Ngũ kinh trang trọng. Bẩm hoàng thượng, muôn tâu bệ hạ, học nhi thời tập chi, bất diệc lạc hồ (học lại được hành, chẳng vui sao), đại nhân lâu nay vẫn an khang đấy chứ, nhân tứ tuần khánh thọ, cung hỉ các ngài, mời các ngài dùng trà, mời quan khách lên mâm trên, chúc thượng lộ bình an... Nghĩa là có một lối ăn nói khác ảnh hưởng sâu sắc từ văn ngôn tiếng Hán, cách thức và lễ nghĩa phong kiến Trung Hoa và Việt Nam. 

Đôi khi sự thay đổi của ngôn ngữ lại phụ thuộc vào vài cá nhân nhà văn, đó thực sự là các văn hào. Từ sau khi tác phẩm của họ được truyền tụng, tiếng mẹ đẻ được mở rộng thêm một bước. Nguyễn Trãi, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến và Tú Xương. Ngâm nga buổi trưa và buổi tối, lẩy thơ, và nói năng ví von bằng nguồn thơ có sẵn... là cách thức phổ thông nhất. Tôi thấy một ông già vác rá đi vay gạo. Ông hàng xóm bảo: Nếu cụ lẩy Kiều được về việc hết gạo, thì tôi biếu không một rá. Ông vay gạo đọc luôn: Đói lòng vừa ghé tới nơi / Thì đà gạo vãi cơm rơi bao giờ / Bếp kia lạnh ngắt như tờ / Nồi kia rêu đã lờ mờ phủ xanh. Nguyên văn trong Kiều như sau: Thuyền tình vừa ghé tới nơi / Thì đà trâm gẫy bình rơi bao giờ / Phòng không lạnh ngắt như tờ / Dấu xưa rêu đã lờ mờ phủ xanh, đó là đoạn một người khách tìm đến nàng Đạm Tiên thì nàng đã xanh cỏ đỏ mồ từ lâu.

Ăn nói hàng ngày là một biểu hiện của tính cách dân tộc, ngay từ cách dùng từ ăn nói, mà không dùng làtiếng nói, lời nói. Ăn và nói là hai việc khác nhau, ghép với nhau chúng thể hiện phong cách sinh hoạt. Người Việt nói: ăn nói, ăn nằm (tình yêu thắm thiết đã có sinh hoạt tình dục), ăn trông nồi, ngồi trông hướng, trồng lúa ăn nằm, chăn tằm ăn đứng... chứng tỏ ăn là hành vi quan trọng, khởi thủy, vì vậy mới nói nhân chi sơ là sờ tí mẹ, tính bản thiện là miệng muốn ăn. Nhưng khi nói riêng về ăn, thì người Việt có không biết bao nhiêu từ tương tự: ăn, đớp, hít, chén, nhậu, nhắm, hốc, bớp, đả, đánh, húp, nhôm, quạc, sực... cũng giống như những từ chỉ việc đánh nhau nhiều vô kể: đạp, đấm, đá, thụi, bốc, túm, quăng, quật, tát, béo, thoi, ục, chưởng, đả, đánh, cốc, gõ, chém, bổ, húc, quạt... tất nhiên là mỗi từ đắc địa trong một hành vi cụ thể, nhưng có lẽ so với các ngôn ngữ khác là quá phong phú. Từ ngữ diễn đạt các trạng thái tình cảm còn giầu có gấp bội, nhưng ngược lại các từ chỉ vật chất lại khá nghèo nàn, nhất là những sản phẩm công nghiệp, người Việt hầu như hoàn toàn vay mượn từ ngôn ngữ Hán và Anh, Pháp. 

Khi trò chuyện, người Việt thường khen ngợi người khác sung sướng hơn mình và bản thân mình thì ôn nghèo kể khổ, dường như chỉ có họ là người khổ nhất trên đời. Bác xây nhà mới to quá, dễ đến vài trăm triệu, con cháu lại đề huề cả, anh ấy làm cho người nước ngoài ối tiền, bác cứ gọi là ngồi mát ăn bát vàng, tiền nhiều như thế để đâu cho hết, cái áo này chắc mua tận Mỹ đây... Và Khốn nạn cái thân tôi, khổ thân em quá, sao mà em cơ cực thế này, cay đắng lắm chị ơi, nào có vui vẻ gì, chồng với con gì toàn một lũ ăn bám, ông giời không có mắt thôi, kỳ này thì cứt cũng không có mà ăn, đú đởn cho lắm vào rồi ít nữa mốc mép, giời ôi, cái lồn mà để ngoài da / một ngày mất bẩy mươi ba cái lồn... 

Cho đến nay toàn bộ đời sống tinh thần của người Việt vẫn dành cho làm ăn và quan hệ tình cảm, tất nhiên điều này cũng thuộc về con người nói chung, nhưng ngoài cái đó ra lại không có chỗ nào cho văn hóa nghệ thuật và khoa học. Những quan tâm đến môi trường và cộng đồng cũng chưa có một vị thế trong tâm hồn, và tâm hồn ấy cũng không có một đấng tối cao nào ngự trị. Trước nền kinh tế thị trường, Việt Nam là một xã hội nông nghiệp, thu nhập không cao, tích lũy không nhiều, người dân không có ước vọng cao xa ngoài đủ ăn đủ mặc, rồi đến nhà ngói sân gạch. Nền kinh tế thị trường bắt đầu, người ta lao vào guồng máy kiếm tiền như con thiêu thân, tham vọng của từng cá nhân đều là cái thùng không đáy.

2. Khi tư duy lý trí không mạnh, ăn nói ví von là cách tốt nhất để diễn tả. Ví von luôn gắn với đời sống vật chất cụ thể và các trạng thái tâm sinh lý. Ôi dào, dậu đổ bìm leo, nhà em có gì, toàn chổi cùn rế rách, kẻ cắp bà già gặp nhau, sâu bọ lên làm người, chó cắn áo rách hay hớm gì, miệng nam mô bụng một bồ dao găm, tâm xà khẩu Phật, mật ngọt chết ruồi... Trên cơ sở này ca dao dân ca cũng dùng toàn ví von so sánh: Ước gì anh hóa ra dưa / Để anh được tắm nước mưa chậu đồng; Ước gì sông rộng tầy gang / Bắc cầu giải yếm cho chàng sang chơi; Một vung một chĩnh chẳng mong / Một vung hai chĩnh còn nong tay vào; Chồng người đánh giặc sông Lô / Chồng em ngồi bếp rang ngô cháy quần; Chồng người buôn ngược bán xuôi / Chồng em ngồi bếp để buồi chấm gio... Như vậy nếu tìm trong kho tàng văn học truyền miệng Viêt Nam cũng đủ hết những hình thức vật chất thường dụng. Đồ dùng do con người chế tạo, sử dụng hàng ngày, các trạng thái của nó phản ánh các trạng thái tinh thần. Ví dụ: lợn cưới áo mới (đồ tốt), chổi cùn rế rách (đồ tồi), già được bát canh, trẻ được manh áo mới (khát vọng), nhẵn như cầu hàng thịt (sự thớ lợ, trơ trẽn).

Nhà thơ Nguyễn Khuyến viết:

Đã bấy lâu nay bác đến nhà,
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.
Ao sâu nước cả khôn chài cá,
Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà.
Cải chửa ra cây, cà mới nụ,
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.
Đầu trò nói chuyện trầu không có, 
Bác đến chơi nhà, ta với ta.

Một khung cảnh rất đặc trưng cho căn nhà người nông dân, có đủ ao cá, gà qué, vườn rau, cải, bầu, cà, mướp, và trầu cau, nhưng cuối cùng là chẳng có gì ngoài tình người.

Tiếng Việt từng được thử thách với tiếng Hán trong một quá trình lịch sử lâu dài. Cách chúng ta một ngàn ba trăm năm, mà Lý Bạch, Đỗ Phủ đã viết hàng ngàn bài thơ tinh tế về nhân gian thế sự và tình cảm của con người đủ mọi trạng thái góc độ. Cũng thời gian đó, người Việt không thể nào mà dùng tiếng Việt diễn tả như vậy được, và thực ra tất cả các thứ tiếng khác trên đời lúc đó cũng thế. Ta có thể thấy điều đó trong văn học Trung cổ phương Tây. Muốn diễn đạt sâu sắc điều gì, nhà Nho Việt lại phải dùng Hán văn. Tám trăm năm sau Lý Đỗ, Nguyễn Trãi làm thơ Nôm thế này: Góc thành Nam, lều một gian / Bụt chẳng phải, ở chẳng phải / Bà ngựa gầy thiếu kẻ chăn. Ba trăm năm sau Nguyễn Trãi, đến Hồ Xuân Hương tiếng Việt đã trở nên tinh vi sinh động ngóc ngách lạ thường: Trời đất sinh ra có một vòm / Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom. Nhưng cái khí vị nửa Nôm nửa Hán vẫn còn phảng phất cho đến Bà huyện Thanh Quan: Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn / Tiếng mõ xa đưa tiếng ốc dồn / Gác mái ngư ông về viễn phố / Gõ sừng mục tử lại cô thôn.  

Tôi tin chắc rằng cái rổ, cái rá hoàn toàn do người Việt làm ra không nhất thiết phải học người Trung Quốc và từ rổ rá cũng hoàn toàn thuần Việt. Nhưng tôi lại thất vọng vô cùng khi biết cái khố lại là một từ Hán, chỉ cái quần ngắn, chả lẽ không có người Trung Quốc thì người Việt cởi truồng, khi mà xưa kia rất nhiều người Việt chỉ có độc cái khố che bộ hạ. Tại sao chúng ta lạ nói là bông hoa, khi bông chính là hoa trong tiếng Hán. Người Việt nói rằng đâm bông kết trái, học tiếng Hán, ta nói rằng đơm hoa kết quảbông trái ta có thể nói là hoa quả. Quá trình này tất nhiên không thiệt gì, mà tiếng Việt lại thêm phong phú và sinh động gấp bội. Tiếng Hán đã có mặt trong tiếng Việt tới 60 %, có thể chỉ là lượng từ, nhưng nó đã vào như thế nào và nó làm thay đổi hay phong phú thêm tâm hồn của người Việt như thế nào, chúng ta cũng thường không để ý. Ở một số tỉnh miền nam Trung Quốc như Quảng Đông, Triết Giang, Phúc Kiến, nhiều từ gốc Hán được phát âm không khác gì tiếng Việt phát âm. Ví dụ chu sa, xạ kích, mục tiêu, mục lục... Trong khi đó tiếng Hà Bắc (Bắc Kinh) ngày nay là khác hẳn. Tất nhiên người Việt không thể nói chuyện thẳng với người Quảng Đông bằng tiếng Hán Việt và ngược lại, nhưng chắc chắn trong lịch sử có lúc ngôn ngữ vùng phía nam sông Dương Tử rất gần gũi với ngôn ngữ Việt. Ở Hồng Kông tôi đi khắc một con dấu cho họa sỹ Trương Hạnh, tôi nói với ông thợ rằng  khắc cho tôi con dấu tên Zhangxing, ông ta bảo tôi viết ra, rồi đọc nguyên văn là Trương Hạnh. Âm Hán Việt nhuần nhuyễn với nhau trong hai ngàn năm qua làm cho tiếng Việt trở nên lóng lánh uyển nhã lạ thường. Ví như ta đọc thơ Đường bằng âm Hán Việt là hay vô cùng, đến mức Lý Bạch, Đỗ Phủ chắc phải trầm trồ sao thơ mình lại có thể uyển chuyển đến thế. Đại loại:

Bất hướng Đông sơn cửu
Tường vi kỷ độ hoa
Bạch vân hoàn tự tán
Minh nguyệt lạc thùy gia

(Núi Đông lâu không về
Tường vi hoa mấy độ
Mây trắng tan ra mãi
Trăng sáng lọt nhà ai)

Từ đây các nhà thơ Việt Nam có thể làm:

Lởn nhởn mấy hàng tỏi
Lơ thơ mấy nhánh khương
Vẻ chi là cảnh mọn 
Thế mà cũng tang thương
(Nguyễn Gia Thiều) 

Đỗ Phủ viết Vô biên lạc diệp tiêu tiêu hạ / Bất tận Trường Giang cổn cổn lai.  (Vô hạn lá rơi ào ào rụng / Chẩy mãi Trường Giang lớp lớp dồn). Nguyễn Khuyến viết Hoạn đào chỉ dĩ khinh tâm trạo / Lợi trục thời thường lãnh nhãn khan (Bể hoạn chỉ nên chèo với lòng nương nhẹ / Cuộc lợi lộc nhìn với con mắt lạnh lùng). Bà huyện Thanh Quan viết Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo / Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.

Ở thế kỷ 15, trong văn bản Cổ châu lục chùa Dâu, nhà sư Khâu đà la nói với đệ tử Man Nương rằng: Mày ở trong phép của tao. Nếu diễn đạt đúng tiếng nói của chúng ta ngày nay phải thế này: Đệ tử, cô đang theo học đạo của thầy. Chúng ta nhận ra một điều khác, có thời người Việt cũng dùng phổ biến hai ngôi mày và tao thôi, nhưng rồi một quá trình gia đình hóa xã hội nào đó đã diễn ra, người Việt bê toàn bộ danh từ chỉ ngôi thứ trong gia đình làm đại từ nhân xưng ngoài đường, từ đây ta phải gọi người xung quanh ta là cụ, ông, bà, bác, chú, dì, anh, chị... một cách phiền toái nhất trên đời. Thế nhưng khi Đặng Trần Côn viết: Tương cố bất tương kiến / Thanh thanh mạch thượng tang / Mạch thượng tang, Mạch thượng tang / Thiếp ý quân tâm thùy đoạn tràng, mà Đoàn Thị Điểm dịch là: Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy / Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu / Ngàn dâu xanh ngắt một mầu / Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai, lại chẳng tuyệt vời khi chúng ta có cả hai thứ tiếng hay sao. Có những lúc tiếng Hán gần tiếng Việt đến lạ lùng, ví dụ: Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất bất năng khuất (Mạnh Tử). Được dịch là: Giầu sang không quyến rũ, nghèo khó không chuyển lay, uy vũ không khuất phục, có khác nào một sự chuyển tiếp giản đơn.

3. Tiếng Việt là một ngôn ngữ ý tượng hay cảm giác còn chưa chắc chắn. Tay cầm bán nguyệt xênh xang, bán nguyệt ở đây có thể hiểu là cái liềm, cái hái, nhưng cũng không hẳn như thế, cô gái này đung đưa với mặt trăng lưỡi liềm trong tay, cô cầm cái nón mà ta chỉ trông thấy một nửa, hay cô chẳng cầm gì cả, mà cổ tay, cánh tay tròn lẳn trắng ngà như mặt nguyệt. Rõ ràng mọi thứ không chính xác, không nhất quyết bề nào, đó chính là tiếng Việt. Một thứ tiếng không chính xác, khi nói không xác định được thì, và hành động kết thúc hay chưa, hay còn tiếp diễn, chủ ngữ là ai, ai nói với ai... Được bù lại, nó lại là ngôn ngữ rất văn chương và có chất thơ. Nó đòi hỏi ta phải cảm nhận, thay vì nhận biết một thông tin gì. Người Việt nói chuyện với nhau hàng ngày nhưng nghe kỹ nội dung rất vu vơ, chẳng ra đâu vào đâu, đụng đến việc cụ thể là giải thích hàng tràng dài mà càng không chính xác.

Đêm qua ngồi tựa song đào
Hỏi người quân tử ra vào có thấy vấn vương
Đêm qua gió lạnh đông trường
Nửa chăn nửa chiếu mà nửa giường để đó đợi ai
Tay du ngắt nhụy hoa nhài
Tay giơ đón gió, tay chòi ghẹo trăng
Rủi may cũng bởi chị hằng.
(Ca dao và Quan họ Bắc Ninh)

Thật chẳng có gì cụ thể, nhưng đầy những thông tin người tình trong lời ca rất đẹp. Cô gái không thể nói ra, không thể bày tỏ trước, nhưng chàng cứ quan sát, cảm nhận, còn mọi chuyện có tốt hay không còn phụ thuộc vào số phận. Nhưng nếu ta hỏi đáp với một người: Mày đi đâu đấy? Tao đi đằng này. Việc có tốt không? Cũng hòm hòm? Kiếm được nhiều không? Cũng tàm tạm. Con cái thế nào? Có giời lo. Chuyện ruộng làng ta thế nào? À lý trưởng còn hỏi quan trên, quan trên lại phải tâu lên đức kim thượng. Chiều nay có khao ở đình? Ờ có lẽ, rỗi thì ra. Đã lấy mạ chưa? Đã gieo đéo đâu mà nhổ... Rất nhiều thông tin, cũng như chẳng có gì. Cách ăn nói này của người Việt cho đến nay chẳng thay đổi là mấy, thậm chí nó còn ngày càng vu vơ và trừu tượng hơn, do công việc luôn khúc mắc với nhiều hủ tục hành chính rườm rà, dù người Việt đã và đang học tiếng Pháp, tiếng Anh hàng ngày. Tư duy và tâm hồn của một tộc người có cái gì đó cố hữu dù nói tiếng gì cũng vậy thôi. 

Lời ăn tiếng nói xuất phát từ hoàn cảnh lao động cụ thể. Bước vào một xã hội nông nghiệp, người nông dân biết mình phải làm gì với thời vụ và ruộng đồng. Tháng giêng trồng khoai, tháng hai trồng đậu, tháng ba trồng cà, tháng tư cầy vỡ ruộng ra... cứ thế với xuân hạ thu đông, rồi lại xuân hạ thu đông, ông vua này hay ông vua kia, ông quan này hay ông quan kia, thì nhà nông vẫn một nắng hai sương trên đồng. Chuyện đồng áng họ bàn bạc rất cụ thể và hoàn toàn tin vào kinh nghiệm của mình chứ không nghe theo nhà Nho nào cả. Triều đình sẽ thu thuế đinh và thuế điền thông qua bộ máy lý dịch ở làng, tốt nhất là không sưu cao thuế nặng. Như vậy cuộc sống tự hình thành hai lối ăn nói, một đằng rất cụ thể với lao động sản xuất nông nghiệp và một đằng rất cao siêu với đạo lý của Nho giáo. Trong trường hợp họ cần đến lý thuyết Nho Lão Phật mà khó hiểu thì sẽ tìm cách dân gian hóa tam giáo ấy. Cho nên các học giả nhận định rằng: Nho giáo vào Việt Nam thì biến thành luân thường lễ nghĩa, Phật giáo vào Việt Nam thì biến thành mê tín dị đoan. Nói Phật là giác ngộ thì cao siêu quá, tốt nhất là Phật có nhiều mắt nhiều tay, nhiều quyền năng phép lạ, cứu vớt và phù hộ chúng sinh. Âm dương bát quái của Đạo giáo cũng trừu tượng nốt, nên vẽ lên cái gương treo trước cửa nhà để trừ tà ma.

Lịch sử chế độ quan liêu Việt Nam là lịch sử của bọn ăn không ngồi rồi, không bao giờ dám chịu trách nhiệm một cái gì, việc nào có đút lót thì sốt sắng, việc nào khó thì đùn lên quan trên, quan trên thì đùn lên quan trên nữa, quan trên nữa thì đùn lên vua. Ông vua sẽ phải bàn bạc từ chuyện ăn mày ăn xin, đê điều, giống má, thuế khóa đổ đi, dù có đủ các quan chức trách. Quá trình hành chính này sinh ra cách ăn nói vu vơ, không chết ai, không được việc gì, đầy sự cảm thông, cũng như đầy sự vô trách nhiệm. Kết thúc là sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi. Dư luận xã hội thì không bao giờ được coi trọng và trở thành nghị sự trong triều đình, nên biến thành chuyện tiếu lâm và hò vè chế riễu, mặt khác lại có khả năng chụp mũ giết người không dao bằng các lời đồn thổi. Cuối cùng là để cười, vui vui ấy mà, cũng nhì nhằng thôi, lo chi chuyện trời sập, kệ mẹ nó nói mãi cũng thế, ai có thân người ấy lo, việc quan đâu đến đàn bà trẻ con, ôi dào bói ra ma quét nhà ra rác, số nó giầu có cho nó giầu, nhà mình bạc phúc còn kêu ai, chết ngay đâu mà phải sợ, có phải nhịn bữa nào đâu mà kêu lắm thế, cho ông làm quan cũng vậy thôi, độc mồm độc miệng vừa phải còn để phúc đức về sau, con gà tức nhau tiếng gáy làm gì, của đi thay người, của thiên trả địa, rồi sẽ có quả báo nhãn tiền... Khi tất cả cách nói năng trên còn chưa tắt trên mồm người Việt tức là nền hành chính còn có vấn đề. 

2010

Đọc thêm!

Thứ Hai, 31 tháng 1, 2011

Những chữ cái nhảy múa

TT - Trong bảng chữ cái của mỗi nước, từng chữ cái đều có một tên gọi duy nhất, được xếp theo thứ tự của một hệ thống nhất định để áp dụng thống nhất mọi lúc mọi nơi trong mọi trường hợp.

Ở bảng chữ cái tiếng Việt hiện hành mỗi chữ cái cũng có tên được xếp theo một trình tự rõ ràng, nhưng khi áp dụng vào thực tiễn thì tên của chúng lại được gọi khác nhau ở từng nơi từng lúc.

Thực trạng lộn xộn

Từ mấy thập kỷ nay khi được vào lớp 1 trường tiểu học (và có thể ở lớp mẫu giáo) các em học sinh đã được học đánh vần theo bảng chữ cái với các chữ được phát âm như sau: a, bờ, cờ, dờ, đờ (...), gờ, hờ, (...) lờ, mờ, nờ (...), pờ, quờ, rờ, sờ (nặng), tờ (...), vờ, xờ (nhẹ), y. Theo lệ thường, người ta coi đó là hệ thống tên gọi các chữ cái chính thức của bảng chữ cái tiếng Việt (tạm gọi là hệ thống “a-bờ-cờ”).
Song sau khi học sinh đã học đánh vần (hay ghép vần), tất cả các cấp học trong nhà trường vẫn dùng hệ thống tên chữ theo bảng chữ cái cũ do giám mục Alexandre de Rhodes xác lập (hệ thống “a-bê-xê”).
Như vậy trong nhà trường mặc nhiên tồn tại song song hai hệ thống tên chữ cái. Trên các phương tiện truyền thông việc sử dụng tên chữ cái còn lộn xộn hơn nữa.
Tên gọi tắt của các nhóm nước như G7, G8, G20... được các phát thanh viên Đài truyền hình trung ương (VTV) đọc là “gờ bảy”, “gờ tám”, “gờ hai mươi”; trong khi đồng nghiệp của họ ở Đài truyền hình TP.HCM (HTV) đọc là “giê bảy”, “giê tám”, “giê hai mươi”...
Đáng ngạc nhiên là khi gặp chữ GM (tên viết tắt của công ty Mỹ nổi tiếng General Motors), chính những người của VTV lại đọc là “giê em” chứ không phải “gờ mờ”! Tương tự, chữ GDP (viết tắt của tổng sản phẩm quốc nội) họ cũng đọc là “giê đê pê” (hoặc “gi đi pi”)!
Theo hệ thống “a-bờ-cờ”, nếu G là “gờ” thì V là “vờ” và T phải là “tờ”. Song chính các phát thanh viên của VTV lại đọc tên viết tắt đó của cơ quan mình là “vê tê vê”! Tên tắt của Đài truyền hình VTC2 cũng được đọc là “vê tê xê...”, nhưng bản tin thời sự ICT của chính đài này lại được đọc là “ai xi ti”!
Chữ tắt MC (người dẫn chương trình) đã trở nên quen thuộc với công chúng khi họ được nghe đọc là “em xi”; nhưng chữ MU (tên gọi tắt của đội bóng đá Anh nổi tiếng Manchester United) lại được các bình luận viên bóng đá đọc là “mờ u” chứ không phải “em iu”. Trong trò chơi đoán chữ Chiếc nón kỳ diệu trên truyền hình, một người chơi đoán được chữ X và tuyên bố: “Chữ xờ! Xờ nhẹ!”, người hướng dẫn liền khẳng định: “Đúng rồi, íchxì! Có một chữ íchxì!”.
Một số đài truyền hình và đài phát thanh khi hướng dẫn khán thính giả soạn tin nhắn với ký hiệu GPRS đã thản nhiên đọc ký hiệu đó là “gờ pê rờ étsì”, mà không biết rằng đọc như vậy là đã trộn lẫn hai hệ thống tên chữ cái khác nhau vào cùng một chỗ (“gờ” và “rờ” cùng hệ thống, còn “pê” và “étsì” thuộc hệ thống khác)...
Rõ ràng, việc các chữ trong cùng một bảng chữ cái luôn “nhảy múa” bằng những tên gọi khác nhau ở từng nơi từng lúc đã làm tiếng Việt trở nên thiếu chặt chẽ và kém chính xác. Đó chính là vấn đề của hệ thống tên chữ cái tiếng Việt.
Nguyên nhân “nhảy múa”
Thực tế cho thấy các chữ cái đã nhảy múa xoay quanh ba hệ thống: 1-Hệ thống “a-bờ-cờ”; 2-Hệ thống “a-bê-xê”; và 3-Hệ thống tên chữ cái tiếng Anh (“ây-bi-xi”). Vậy tại sao cùng một bảng chữ cái tiếng Việt người ta lại sử dụng (khi riêng biệt, lúc lẫn lộn) nhiều hệ thống tên chữ cái như vậy?
Hệ thống “a-bờ-cờ” hình thành từ phong trào bình dân học vụ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 để cấp tốc đẩy lùi giặc dốt qua các lớp học “i tờ”. Thế nên khi áp dụng cho các môn khoa học ở nhà trường chính quy hoặc khi dùng để đọc những thông tin phức tạp có những chữ viết tắt theo mô thức quốc tế, hệ thống này đã trở nên bất cập và không thích hợp.
Thậm chí việc đọc bảng chữ cái từ A đến Y cũng không được trôi chảy nên nhiều người không thuộc bảng này.
Trong khi đó, hệ thống tên chữ cái cũ mặc dù có vài tên hơi khó đọc đã đáp ứng đầy đủ mọi yêu cầu khi áp dụng cho khoa học và thông tin, lại cũng dễ thuộc vì giữa các tên chữ có sự liên kết thành một dòng ngữ lưu trôi chảy. Chính vì vậy người ta vẫn phải sử dụng hệ thống tên chữ cái cũ.
Giữa lúc hai hệ thống tên chữ cái tiếng Việt song song tồn tại thì sự xâm nhập mạnh mẽ của tiếng Anh vào tiếng Việt đã làm vấn đề trở nên phức tạp thêm.
Cần một hệ thống tên chữ cái duy nhất
Từ các nguyên nhân trên, thiết nghĩ việc tìm ra giải pháp cho vấn đề không phải là quá khó. Tạm gác lại sự xâm nhập của tiếng Anh để xem xét ở một góc độ khác, câu hỏi được đặt ra là: làm cách nào để bảng chữ cái tiếng Việt chỉ còn một hệ thống tên chữ cái duy nhất áp dụng ở mọi lúc mọi nơi?
Từ năm 2003 các chuyên gia giáo dục tiểu học đã thực hiện một giải pháp cho vấn đề này. Theo đó hệ thống “a-bê-xê”được khẳng định là hệ thống tên chữ để sử dụng khi đọc từng chữ cái riêng biệt; còn hệ thống “a-bờ- cờ” là hệ thống âm của các chữ dùng để ghép vần. Thế là đã có một hệ thống chuẩn mực giúp ta đọc đúng tên chữ cái ở mọi lúc mọi nơi.
Tuy nhiên, sự khác nhau giữa âm và tên chữ cái là rất trừu tượng, khó có thể phân biệt rạch ròi, nên nhiều người vẫn thản nhiên sử dụng lẫn lộn cả hai hệ thống như chưa hề có giải pháp này.
Bên cạnh đó giải pháp này làm việc học trở nên phức tạp và chất thêm gánh nặng tri thức cho học sinh. Bởi ngoài việc đánh vần bằng âm theo hệ thống “a-bờ-cờ”vốn đã có nhiều hệ lụy, giờ đây các em còn phải học thêm các tên chữ theo hệ thống “a-bê-xê”; lại phải biết sự khác biệt giữa âm và tên chữ, biết khi nào dùng âm, khi nào dùng tên...
Có lẽ nên chọn giải pháp đơn giản và có hiệu lực hơn là: áp dụng duy nhất hệ thống tên chữ cái “a-bê-xê” cho việc ghép vần và cho mọi trường hợp khác như ở nước ngoài người ta vẫn thực hiện, cũng như các thế hệ đồng bào ta trước đây vẫn dạy, học và áp dụng vào đời sống.
LÊ VINH QUỐC (tiến sĩ giáo dục)

Đọc thêm!

Thứ Ba, 14 tháng 12, 2010

"Chia sẻ" hay "Chia xẻ"

Nhiều bạn nhắc nhở tôi rằng: sao chú/anh/bạn có nhầm lẫn không khi viết “chia xẻ” mà không là “chia sẻ”?

Vâng, từ “chia sẻ” được đại chúng hóa từ trong các Từ Điển cho đến Báo Chí và cả sách Nghiên Cứu; thậm chí trong mọi sách Giáo Khoa. Ngay trong “Pháp Việt Từ Điển” của Đào Duy Anh: Partager = (1):chia, chia cắt, phân phối, phân cát – (2): chia, sẻ với, dự vào: Partager la joie et les peines d’un ami = chia vui, sẻ cực với bạn – Partager les périles = chia nguy hiểm với ai. [ tr.1232-Minh Tân xb. Lần thứ hai-1950].

Tuy nhiên cũng xin dừng lại ở đây để “chia xẻ” một chút!

Khi đặt ra vấn đề cho mẫu tự “s” hay “x” ở đây, có lẽ ta nên lấn sân sang phạm trù ngữ học một chút…hay nói cách khác là xét đến cách phát âm. Trong ngữ học, khi nói đến cách phát âm là ta đề cập đến một trong các mặt của phương ngữ tức cách phát âm tùy vào mỗi địa phương. Chính Đào Duy Anh cũng dùng cái phương ngữ của mình khi viết: “ Passer la nuit, une nuit = thức xuốt đêm”[sd.tr.1154]. Ở đây âm “s” đã di chuyển sang âm “x” và ngược lại,cũng như miền khác âm “l’ thành “n” và ngược lại vậy.

Trong Tiếng Việt, khi giải nghĩa một từ chúng ta không nên quên cách thành lập từ của nó; cho nên khi ta đặt câu hỏi: [“sẻ” nghĩa là gì trong “chia sẻ”] thật tình là gây khó dễ cho người trả lời!

Cách thành lập “từ láy” hay còn gọi là “tiếng đệm”, nói như Phan Khôi: “Số là, tiếng ta là thứ tiếng đơn âm, chữ nào chết nghĩa ấy, không chắp đầu hay chắp đuôi để biến thành chữ khác nghĩa khác như các thứ tiếng Âu châu được, cho nên rất cần có tiếng đệm. Có thể nói: nhờ tiếng đệm làm cho tiếng nói của ta nẩy nở thêm nhiều ra, và có những cái đại đồng tiểu dị giữa từ ngữ này với từ ngữ khác, là cái làm cho một thứ ngôn ngữ văn tự lên đến bậc minh xác và tinh tế”[Việt Ngữ Nghiên Cứu-tr.63-nxb.Đà nẵng-1997-]

Chúng ta thử lược qua một ít âm “e” trong tiếng láy của tiếng nước ta:
- Mát mẻ…mới mẻ…đẹp đẻ…gọn gẻ…bắt bẻ…sạch sẻ…san sẻ… mà bảo giãi nghĩa các từ “mẻ…đẻ…gẻ…sẻ…” trong các từ đó…quả là bó tay! 
- Và từ “sẻ” trong “chia sẻ” nghĩa là gì? 
- Trong “chia xẻ” , từ “xẻ”có nghĩa là = chẻ ra, bổ ra, cắt ra, phân ra…để chia!

* Từ “sẻ” trong “chia sẻ” không phải là tiếng láy, tiếng đệm; vì tiếng láy/đệm nó có nguyên tắc cấu tạo của nó. Ở đây “sẻ” không đi cùng “đồng phụ âm” (ch) với “chia”, nó cũng không “đồng vận”[ví dụ: hấp tấp – hoang toàng – chơi vơi – tiu nghỉu…], nó cũng không “điệp âm”[như: lâng lâng – khăng khăng – bời bời…] vv…và vv…Và “chia sẻ” cũng không phải là từ ghép vì từ “sẻ” không có nghĩa. Vì thế, “chia sẻ ” đơn giản chỉ là cách phát âm theo địa phương mà thôi, như Đào Duy Anh tuy là nhà ngôn ngữ học đôi lúc cũng theo thói quen của mình mà viết: “Passer la nuit = thức xuốt đêm”

* Từ “xẻ” trong “chia xẻ” tự nó đã có nghĩa và nó đi cùng với một từ khác cũng có nghĩa nữa (“chia”); cho nên từ “chia xẻ” là từ ghép.

Thử đi tìm từ “chia sẻ” và “chia xẻ”: 
(1)- Đồng Âm Dẫn Giải và Mẹo Luật Chính Tả – Trần Văn Thanh – Việt Nam Tu Thư xb – Soạn giả đã kê cứu: 
- Việt Nam Từ Diển (Hội Khai Trí Tiến Đức)-1931
- Hán Việt Từ Điển (Đào Duy Anh)-1932
- Những lỗi thường lầm trong sự học Quốc văn (Đông Hồ và Trúc Hà) –Saigon-1936
- Đồng âm vận tuyển (Trần Văn Khải)-1949
- Những ký chú trích ở Danh từ Khoa học (Hoàng Xuân Hãn)
- Đại Nam Quốc Âm tự vị (HT. Paulus Của)
*-“xẻ”: bổ dọc ra, xẽ gỗ, mổ xẻ, chia xẻ.
[Không có “chia sẻ]

(2)- Tự Điển Việt – Hoa –Pháp (Eugène Gouin)
*-“Chia xẻ: partager, couper, fendre”
[Không có chia sẻ]

(3)- Pháp Việt từ điển (Đào Đăng Vỹ)-1961
*- “Chia xẻ: partager // division.
[Không có “chia sẻ”]

(4)- Vietnamese English student’s Dictionary (Nguyễn Đình Hòa)-1967
*- “Chia xẻ: to share (with)
[Không có “chia sẻ”]

(5)- Từ điển Việt Anh (Bà Võ Lăng) [Nhà xb Tổng Hợp Tiền Giang – 1991-]
*- “Chia xẻ”: to divide up, dismember, to share (trouble, griefs, pleasures etc…)
[Không có “chia sẻ”]

(6)- Từ Điển Anh Việt (Nguyễn Văn Khôn) Nhà xb tp. HCM.
*- to share someone’s opinion: đồng ý với người nào.
- toshare (in) someone’s grief: chia buồn với người nào.
- He shares (in) my troubles as well as my pleasures: nó chia vui xẻ cực với tôi.
[Không có “chia sẻ”]

Nhân có các bạn tôi đặt vấn đề ấy ra cho nên tôi cũng viết ít dòng trên để nêu ý kiến riêng của mình như một sự cảm ơn hơn là làm thinh như một sự cố chấp trước nhiệt tình của các bạn. 
Tuy nhiên những gì tôi nói, có gì bắt buộc tôi phải nói đúng đâu!
Chỉ là nêu vấn đề ra thôi.
Vì thế, mong nhận được ý kiến của các bạn như một cuộc thảo luận hơn là nhằm khẳng định.
Và rất mong được trò chuyện với các bạn.

hongphuongvien
Đọc thêm!